CHƯƠNG 30
Sáu căn
Sáu cửa mở vào thế giới kinh nghiệm
Thế giới đi vào kinh nghiệm qua sáu cửa#
Một con người sống giữa thế giới không phải bằng một ý niệm trừu tượng về thế giới. Đời sống chỉ thật sự trở thành kinh nghiệm khi có thấy, nghe, ngửi, nếm, và những gì xuất hiện nơi tâm. Một cảnh vật có thể ở trước mặt, nhưng nếu không có điều kiện cho sự thấy, cảnh ấy không đi vào kinh nghiệm theo cửa mắt. có thể đang vang, nhưng nơi không có khả năng nghe thích hợp, nó không thành kinh nghiệm nghe. Cũng như vậy, vô số hình ảnh tâm, ký ức, ý nghĩ hay pháp được suy xét chỉ trở thành đối tượng của đời sống khi cửa ý có điều kiện tiếp nhận chúng. Sáu căn vì thế không phải một phần phụ trong giáo pháp. Chúng nằm ngay tại chỗ thế giới và đời sống của chúng ta gặp nhau.
Khi nói sáu căn, giáo pháp chỉ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý như sáu nội xứ, sáu nền bên trong để những loại kinh nghiệm tương ứng có thể hình thành. Cách gọi cửa rất dễ hiểu, nhưng cần nhớ đó chỉ là một hình ảnh. Không có một người bí mật ngồi bên trong thân rồi nhìn ra qua sáu cửa ấy. Nếu giữ hình ảnh quá sát, chúng ta lại dựng một tự ngã đứng sau các căn, giống người chủ nhà sử dụng mắt để nhìn, tai để nghe và ý để suy nghĩ. Chính điều mà làm sáng là mỗi loại kinh nghiệm xuất hiện khi những duyên tương ứng hội đủ, không cần thêm một chủ thể thường hằng đứng ngoài tiến trình.
Trong đời sống thông thường, câu tôi thấy, tôi nghe, tôi nghĩ hoàn toàn cần thiết. Không ai phải bỏ cách nói ấy để chứng minh mình hiểu . Nhưng khi quán sát sâu, chúng ta bắt đầu tách cách nói quy ước khỏi giả định bản thể nằm phía dưới. Một có mặt, mắt có khả năng tiếp nhận, nhận biết tương ứng sinh, từ đó kinh nghiệm về đối tượng tiếp tục được hình thành. Câu tôi thấy gom tất cả lại thành một cách nói thuận tiện, nhưng bản thân câu nói không chứng minh có một người thấy bất biến.
Sáu căn làm điều này trở nên gần hơn rất nhiều so với một cuộc tranh luận triết học.
Chúng ta có thể nhìn ngay chính mắt mình. Khả năng thấy hôm nay không hoàn toàn giống lúc còn nhỏ, cũng không bảo đảm sẽ giống như thế khi tuổi cao. Tai có thể nghe tốt rồi suy giảm. Khứu giác và vị giác thay đổi khi thân bệnh. Cảm giác nơi thân bị ảnh hưởng bởi vô số tình trạng vật chất. cũng không phải một năng lực bất động, đời sống tâm thay đổi theo sức khỏe, trạng thái tỉnh táo, , sự học và những điều kiện đang có.
Nếu sáu căn thật sự thuộc quyền một tự ngã tuyệt đối, sự thay đổi như vậy rất khó giải thích. Chúng ta có thể chăm mắt, bảo vệ tai, giữ sức khỏe và tạo nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng không thể ra lệnh rằng một căn phải giữ nguyên năng lực suốt đời. Chính tính phụ thuộc vào duyên làm chúng có khả năng được chăm sóc, đồng thời cũng đặt giới hạn cho quyền sở hữu.
Cái gọi là thế giới của tôi vì vậy luôn mang dấu của sáu căn đang có.
Một người mất một khả năng giác quan không sống trong một vũ trụ hoàn toàn khác, nhưng thế giới được kinh nghiệm qua đời sống ấy thay đổi sâu. Người từng thấy rồi mất thị lực không còn tiếp nhận cảnh qua cửa mắt theo cách trước. Những âm thanh, xúc chạm và khả năng nhận biết khác có thể trở nên nổi bật hơn. Điều này không chứng minh thế giới bên ngoài do giác quan tạo ra. Nó chỉ làm rõ rằng thế giới như được kinh nghiệm luôn tùy thuộc vào những cửa đang có khả năng tiếp xúc với nó. Phân biệt này rất quan trọng.
Nếu nói sáu căn tạo ra thế giới, chúng ta rất dễ đi sang một lập trường mà giáo pháp không cần đến. Núi không biến mất chỉ vì chúng ta nhắm mắt. Một ngọn lửa vẫn có khả năng làm bỏng dù người ta không muốn biết nó. Nhưng núi, lửa, tiếng nói, mùi hương hay một ý niệm trở thành phần của kinh nghiệm cá nhân qua những điều kiện cụ thể. Phật pháp quan tâm đặc biệt đến phần ấy bởi khổ, ái, chấp thủ và trí tuệ đều xảy ra trong đời sống kinh nghiệm, chứ không ở một thế giới trừu tượng tách khỏi người đang sống.
Sáu căn còn làm sáng một điều rất căn bản: không phải mọi thứ đều đi vào tâm cùng một lúc và cùng một cách. Trong một căn phòng có thể có màu sắc, âm thanh, mùi, nhiệt độ và rất nhiều kích thích khác, nhưng kinh nghiệm nổi lên tùy cửa nào đang hoạt động và điều kiện nào đang mạnh. Có lúc một âm thanh nhỏ chiếm toàn bộ sự chú ý, lúc khác, cũng âm thanh ấy gần như chìm vì thân đang đau mạnh. Sáu căn không phải sáu ống dẫn thụ động đưa mọi thứ nguyên vẹn vào bên trong. Chúng thuộc một mạng duyên rất rộng trong đó khả năng tiếp nhận, đối tượng, sự chú ý và trạng thái tâm cùng tham dự.
Điều cần giữ rõ là sáu căn không phải . Mắt là căn, sự nhận biết nương mắt và sắc là thức tương ứng. Ý là căn, nhận biết đối tượng tâm không nên bị đồng nhất luôn với chính ý căn. Nếu hai phần bị gom làm một, phân tích Duyên khởi sẽ mất sáng và rất dễ quay về hình ảnh có một tâm chung vừa làm cửa vừa làm người biết.
Sáu căn cũng chưa phải xúc. Xúc chỉ có điều kiện hình thành khi căn, cảnh và thức tương ứng cùng hội. Nói mắt tiếp xúc thế giới chỉ là cách diễn đạt rộng, xét kỹ, mắt một mình không đủ tạo nên kinh nghiệm xúc. Chính sự phân biệt này cần được giữ để việc quán chiếu sáu trần, sáu thức và xúc tiếp tục được triển khai đúng.
Khi nhìn sáu căn như vậy, đời sống bắt đầu bớt giống một cái tôi đang đứng giữa thế giới và nhiều hơn giống một tiến trình gặp gỡ. Có một nền bên trong, có đối tượng tương ứng, có sự nhận biết, rồi kinh nghiệm tiếp tục mở ra. Không cần một trung tâm bất biến mới làm cho sự gặp gỡ ấy xảy ra. Đây là bước quan trọng sau .
Năm uẩn đã giúp nhìn thân tâm như những nhóm . Sáu căn đưa cái thấy ấy đến ngay biên giới nơi thân tâm chạm với thế giới. Cái chúng ta gọi là đời sống được mở ra từ chính những cửa này, và vì các cửa cũng , chịu điều kiện, không thể làm chủ tuyệt đối, chúng không thích hợp để bị nắm là tự ngã.
Sáu căn không cần bị loại bỏ. Chúng là điều kiện của kinh nghiệm. Điều cần thay đổi là cách tâm sống với những gì đi qua chúng.
Căn không chỉ là bộ phận giải phẫu mà là nền của một loại kinh nghiệm#
Khi nghe mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, người ta rất dễ hiểu sáu căn hoàn toàn theo nghĩa những bộ phận cơ thể có thể nhìn thấy. Mắt là hai nhãn cầu, tai là phần tai trên đầu, mũi là cơ quan ngửi. Nếu chỉ giữ cách hiểu ấy, giáo pháp về sáu căn bị thu hẹp thành một bài mô tả cơ thể.
Trong cách trình bày của Nikāya, căn hay nội xứ cần được hiểu trong quan hệ với khả năng làm nền cho loại kinh nghiệm tương ứng. Cơ quan vật chất là điều kiện quan trọng, nhưng khi nói mắt như một xứ, trọng tâm không nằm ở việc phân tích cấu tạo giải phẫu. Điều đang được chỉ là nền bên trong nhờ đó hình sắc có thể được nhận biết trong quan hệ với những duyên khác. Bởi vậy, đưa những thuật ngữ giải phẫu hiện đại vào quá sâu không làm giáo pháp chính xác hơn, đôi khi còn che mất mục đích quán chiếu.
Cách hiểu này đặc biệt cần thiết khi đến ý căn. Năm căn đầu có phương diện vật chất tương đối dễ hình dung, nhưng ý không phải một cơ quan nằm cạnh năm cơ quan còn lại. Nó thuộc cửa của những pháp được kinh nghiệm trong tâm. Nếu người học đã quen xem tâm là một linh hồn hay trung tâm điều khiển, ý căn rất dễ bị kéo vào vai trò ấy.
Nhưng ý trong sáu căn không phải tự ngã. Nó là một nội xứ.
Ý làm điều kiện cho loại nhận biết tương ứng đối với pháp thuộc tâm, giống như mắt làm điều kiện cho nhận biết hình sắc. Cách phân tích ấy rất quan trọng bởi nó đặt cả những kinh nghiệm tinh tế nhất vào Duyên khởi. Một ký ức, một ý niệm, một hình ảnh tâm hay một vấn đề được suy xét không cần một chủ thể nằm ngoài sáu căn để sở hữu chúng. Chúng trở thành đối tượng trong một quan hệ nhận biết có điều kiện.
Nếu không phân biệt được, tâm thường lập tức dựng hai tầng. Năm giác quan thuộc thân, còn phía sau là một cái tâm thật sự đang sử dụng chúng. Sau đó cái tâm ấy được trao tính thường hằng mà không cần chứng minh. Giáo pháp làm cách chia hai tầng này khó giữ, bởi ngay ý cũng được đặt vào phạm vi có duyên chứ không đứng ngoài làm chủ.
Nói ý là một căn cũng không có nghĩa phải đồng nhất nó với não hay phủ nhận mọi quan hệ giữa đời sống tâm và thân thể. Phật pháp trong bối cảnh này không cần giải quyết câu hỏi khoa học hiện đại về tương quan giữa não và . Điều cần giữ là chức năng trong giáo pháp: ý thuộc một cửa nhận biết và không phải một linh hồn.
Khi hiểu căn là nền cho kinh nghiệm, một điều khác trở nên rõ: căn có khả năng suy giảm, thay đổi hoặc không hoạt động đầy đủ vì chúng thuộc hữu vi.
Một người có mắt về mặt hình thể nhưng khả năng thấy bị tổn thương cho thấy chỉ có hình thức cơ quan chưa đủ bảo đảm toàn bộ chức năng. Tai cũng vậy. Việc nhận biết qua một căn đòi nhiều điều kiện hơn cái mà mắt thường nhìn thấy.
Duyên khởi vì thế sâu hơn cách nói có mắt nên thấy. Có mắt là một duyên. Có hình sắc là một duyên. Sự nhận biết tương ứng lại cần điều kiện của nó. Rồi toàn bộ kinh nghiệm còn tiếp tục qua xúc, thọ, tưởng và những tạo tác. Chỉ một câu đơn giản tôi thấy cái cây đã chứa một mạng rộng hơn rất nhiều cảm giác trực tiếp của chủ thể.
Điều này không nhằm làm đời sống trở nên phức tạp đến mức khó sống. Trái lại, chúng ta vẫn nhìn cây và biết cây trong một khoảnh khắc. Phân tích giáo pháp chỉ cần khi tâm nắm cái đơn giản ấy thành bằng chứng cho một cái tôi.
Khi quan sát đủ sâu, cái tưởng như tôi đang nhìn bắt đầu được tháo thành những điều kiện. Không có điều kiện nào riêng lẻ làm toàn bộ công việc. Mắt không thấy một mình. Sắc không tự đi vào tâm. Thức không có mặt bất chấp căn và cảnh. Tưởng cũng không tự tạo đối tượng từ hư không. Không có trung tâm nhưng vẫn có kinh nghiệm.
Đây là điều Duyên khởi thường làm tâm khó quen, bởi chúng ta được huấn luyện rất lâu để nghĩ mọi hoạt động cần một người điều khiển. Một chiếc xe cần người lái, nên chúng ta tưởng thân tâm cũng phải có một người lái phía trong. Nhưng phép so sánh ấy chỉ đúng với một vật được chế tạo và sử dụng, nó không nhất thiết đúng với một tiến trình sống do rất nhiều điều kiện cùng duy trì.
Thân không giống chiếc xe có chủ nhân độc lập bên ngoài. Sáu căn càng không phải bảng điều khiển của một linh hồn. Chúng sinh trong chính đời sống hữu vi và hoạt động theo điều kiện của đời sống ấy.
Nhìn như vậy, sự chăm sóc căn cũng được đặt đúng. Chúng ta bảo vệ mắt khỏi tổn thương không vì mắt là tôi theo nghĩa tuyệt đối, mà vì khả năng thấy là một điều kiện có giá trị. Chăm tai, giữ thân khỏe và bảo vệ đời sống tâm không mâu thuẫn với vô ngã. Vô ngã không yêu cầu bỏ những điều kiện cần thiết, nó chỉ tháo sự chiếm hữu.
Một điều quý không cần trở thành tự ngã mới đáng chăm. Thân đã cho thấy điều đó ở . Sáu căn làm nó cụ thể hơn ở từng cửa kinh nghiệm.
Khả năng thấy rất quý đối với người đang có nó, nhưng vì quý không có nghĩa bất biến. Chính vì nó có thể suy nên chúng ta chăm. Chính vì nó chịu duyên nên việc chăm có tác dụng. Đồng thời chính vì nó chịu duyên nên chúng ta không thể bảo đảm giữ mãi.
Mối quan hệ giữa chăm sóc và buông chấp trở nên rất quân bình khi nhìn như vậy.
Không thờ ơ. Không sở hữu tuyệt đối. Không xem khả năng giác quan là giá trị của con người. Cũng không coi chúng là thứ không đáng kể. Sáu căn được trả về đúng vị trí: những điều kiện quan trọng của kinh nghiệm hữu vi. Từ vị trí ấy, chúng vừa có thể được sử dụng sáng suốt vừa có thể được thấy là vô ngã.
Chính sự đổi thay của các căn làm thế giới được kinh nghiệm cũng đổi theo#
Sáu căn không tồn tại như một bộ thiết bị được hoàn thiện từ đầu rồi sử dụng nguyên trạng suốt đời. Chúng thay đổi cùng thân tâm. Khả năng thấy, nghe, cảm xúc chạm hay tiếp nhận các đối tượng tâm đều có lịch sử và chịu tác động của nhiều điều kiện.
Một đứa trẻ nhìn cùng một vật không giống người trưởng thành về toàn bộ kinh nghiệm. Không chỉ vì tưởng và hiểu biết khác, chính khả năng của các căn cũng trải qua quá trình phát triển. Về cuối đời, những căn từng hoạt động rất mạnh có thể dần suy. Giữa hai đầu ấy, bệnh tật, mệt mỏi và môi trường liên tục làm mức độ tiếp nhận thay đổi.
Vô thường của sáu căn thường chỉ được thấy khi khả năng mất đi.
Khi mắt còn nhìn rõ, việc thấy dường như quá tự nhiên đến mức ít ai nghĩ đó là một duyên mong manh. Chỉ khi thị lực giảm, người ta mới nhận ra bao nhiêu phần đời sống từng dựa vào nó. Tai nghe tốt cũng được mặc nhiên cho tới lúc âm thanh không còn rõ.
Cảm giác sở hữu thường phát triển trên những gì hoạt động ổn định.
Tâm nói mắt tôi, rồi từ chữ của tôi âm thầm sinh yêu cầu mắt phải phục vụ như trước. Khi nó suy, nỗi khó chịu không chỉ đến từ sự bất tiện, còn có một tầng bất mãn rằng điều thuộc về mình đã không làm theo ý mình. Chính chỗ ấy vô thường đi tới vô ngã.
Nếu căn thật sự nằm dưới quyền của một chủ thể độc lập, người chủ ấy phải có khả năng bảo rằng mắt đừng mờ, tai đừng giảm, thân đừng mất cảm giác và ý đừng bị tán loạn. Nhưng quyền như vậy không có.
Chúng ta có thể ảnh hưởng. Không thể tuyệt đối điều khiển.
Khác biệt này đã được nêu ra, nhưng với sáu căn nó mang một chức năng riêng: nó cho thấy chính những cửa qua đó thế giới được biết cũng không phải nền cố định. Khi cửa đổi, thế giới kinh nghiệm đổi.
Một người mất khả năng nếm trong một thời gian có thể thấy bữa ăn trở thành trải nghiệm rất khác. Thức ăn bên ngoài vẫn đó, nhưng phần thế giới trước kia đi qua cửa vị giác đã thay đổi. Người bị nghẹt mũi kinh nghiệm mùi kém hơn, cảm giác về món ăn cũng đổi theo. Một người đang đau thân mạnh có thể thấy cả ngày bị nhuộm bởi xúc chạm khó chịu, dù nhiều đối tượng khác quanh họ không thay.
Cái nhìn này giúp chúng ta bớt tuyệt đối hóa kinh nghiệm của mình.
Chúng ta thường tin thế giới đang chính xác là như thế bởi đó là cách nó đang xuất hiện qua các căn của chúng ta. Nhưng chỉ cần căn hoặc trạng thái thân tâm đổi, cách thế giới được kinh nghiệm đã có thể đổi đáng kể. Điều ấy không biến sự thật thành tương đối hoàn toàn.
Một đối tượng vẫn có những tính chất không phụ thuộc hoàn toàn vào sở thích cá nhân. Nhưng người sống với nó luôn tiếp cận qua những điều kiện có giới hạn. Thấy giới hạn ấy làm cái biết khiêm nhường hơn.
Một người nghe không rõ có thể nhận sai lời. Người nhìn trong ánh sáng yếu có thể nhầm hình. Tâm đang mệt cũng dễ xử lý đối tượng ý khác với lúc sáng. Không phải vì mọi thứ đều bất định, mà vì khả năng tiếp nhận không phải toàn năng.
Sáu căn vì vậy cũng đặt một giới hạn cho cái gọi là kinh nghiệm trực tiếp.
Trực tiếp không đồng nghĩa tuyệt đối.
Một vật được thấy trực tiếp vẫn được thấy trong điều kiện của mắt, ánh sáng, khoảng cách và nhiều duyên. Một trạng thái tâm được nhận trực tiếp cũng xảy ra trong điều kiện của ý căn và nhận biết tương ứng.
Nhận ra điểm này bảo vệ người tu khỏi của kinh nghiệm.
Có khi một trạng thái thiền hoặc một cảm giác nội tâm rất mạnh được xem là chân lý chỉ vì nó quá trực tiếp. Nhưng cường độ của kinh nghiệm không tự động bảo đảm cách hiểu về kinh nghiệm là đúng. Sáu căn nhắc rằng bất cứ điều gì đi vào đời sống hữu vi đều cần được nhìn trong Duyên khởi. Sự thay đổi của căn còn có một ý nghĩa rất nhân bản.
Khi gặp người đang mất một khả năng giác quan, chúng ta không cần xem họ là một con người thiếu theo nghĩa giá trị. Một căn có chức năng khác đi là thay đổi của hữu vi, không phải bằng chứng về phẩm giá. Ngã chấp xã hội thường lấy khả năng thân thể làm tiêu chuẩn đánh giá, cái thấy về Duyên khởi làm tiêu chuẩn ấy mềm đi.
Con người quy ước vẫn có những nhu cầu hỗ trợ khác nhau. Không phủ nhận sự khó khăn thật. Nhưng một khả năng giác quan không phải tự ngã nên sự suy giảm của nó không thể định nghĩa toàn bộ người đang sống. Đối với chính mình cũng vậy.
Nếu một ngày một căn suy, nỗi mất mát có thể rất thật. Giáo pháp không đòi phải giả vờ bình thản. Cái được chuẩn bị từ trước là một cách nhìn ít sở hữu hơn: khả năng này quý, nhưng nó chưa từng được bảo đảm, nó đang có mặt nhờ duyên và sẽ đổi khi duyên đổi.
Sự chuẩn bị ấy làm việc chấp nhận không còn là đầu hàng. Chúng ta tiếp tục chăm phần có thể chăm, thích nghi với phần phải đổi và không dùng sự biến đổi của căn để kết luận rằng một cái tôi đã bị giảm giá trị. Sáu căn như thế trở thành bài học vô thường sống động. Không cần đợi một tư tưởng xa xôi.
Mỗi lần ánh sáng thay đổi làm cái thấy khác, mỗi lần thân mệt làm xúc chạm nhạy hơn, mỗi giai đoạn tuổi tác làm các khả năng đổi, Duyên khởi đang hiện ngay nơi thế giới được mở ra. Cửa cũng vô thường.
Vì vậy, thế giới kinh nghiệm không thể là một khối cố định của một chủ thể cố định.
Ý căn không phải người ngồi phía sau năm giác quan#
Trong sáu căn, ý là phần dễ bị hiểu sai nhất. Năm căn đầu có liên hệ rõ với thân, còn ý khiến chúng ta lập tức nghĩ tới một trung tâm nội tâm, nơi mình thật đang suy nghĩ và chỉ huy. Nếu không cẩn trọng, cả giáo lý sáu căn cuối cùng lại được sắp quanh một tự ngã tinh tế: năm giác quan đưa thông tin vào, rồi một cái tâm bên trong quyết định ý nghĩa.
Cách hình dung này rất gần với cảm giác thông thường nhưng không phải kết luận mà Duyên khởi buộc phải chấp nhận. Ý cũng là một căn.
Nó thuộc phạm vi nội xứ như mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Đối tượng tương ứng của ý là các pháp được kinh nghiệm nơi tâm. Khi những điều kiện phù hợp hội đủ, nhận biết tương ứng sinh. Điều này đặt ý vào cùng trật tự duyên sinh thay vì đặt nó lên trên năm căn kia.
Một ký ức bất chợt xuất hiện minh họa khá rõ. Người ta thường nói tôi nhớ, nhưng nhiều khi chính họ không hề chủ ý gọi ký ức ấy lên. Một mùi, một câu nói hoặc một hình ảnh làm điều cũ hiện ra. Khi nó đã xuất hiện, tâm mới tiếp tục làm việc với nó. Nếu có một người điều khiển ý tuyệt đối, việc những nội dung không mời vẫn đi vào tâm sẽ rất khó giải thích. Ý nghĩ cũng vậy.
Chúng ta có thể định suy nghĩ về một vấn đề, nhưng trong khi suy nghĩ, vô số liên tưởng ngoài dự kiến chen vào. Có thể cố không nghĩ tới điều gì đó, nhưng chính nỗ lực tránh đôi lúc làm nó trở lại rõ hơn. Điều này không nói con người hoàn toàn không có khả năng định hướng tâm, nó chỉ cho thấy ý không phải một vùng phục tùng tuyệt đối cho chủ thể. Chính vì ý chịu duyên, việc tâm mới có ý nghĩa.
Nếu ý hoàn toàn độc lập, , định, học pháp hay tập khí không thể ảnh hưởng tới nó. Nhưng đời sống cho thấy tâm được giáo dục. Cách một người suy nghĩ sau nhiều năm học có thể khác trước. Định làm khả năng an trú đổi. Thói quen phóng dật cũng làm ý dễ chạy theo các đối tượng.
Ý căn vì thế vừa có tính điều kiện vừa có khả năng được huấn luyện. Hai điều này không mâu thuẫn. Chúng là hai mặt của Duyên khởi.
Điều cần tránh là đồng nhất ý căn với thức. Ý thuộc nền bên trong, ý thức là sự nhận biết nương ý và pháp tương ứng. Nếu nói ý chính là cái biết, chúng ta làm mất sự phân biệt rất quan trọng giữa căn và thức. Cũng không nên đồng nhất ý với .
, ý muốn và những tạo tác tâm thuộc một vùng chức năng khác. Chúng có thể xuất hiện trong kinh nghiệm qua cửa ý, nhưng không vì thế chính ý căn trở thành toàn bộ ý chí.
Một thuật ngữ bị giao quá nhiều chức năng sẽ rất nhanh biến thành bản ngã.
Nếu tâm vừa là căn, vừa là thức, vừa là người muốn, vừa là nơi chứa ký ức, vừa là chủ sở hữu nghiệp, cuối cùng nó đã làm hầu hết công việc của một linh hồn. Phân tích của Phật pháp đi theo hướng ngược lại. Nó làm những chức năng từng bị gom vào tôi trở nên có thể phân biệt. Ý là căn. Thức là thức. Tưởng nhận dấu. Hành tạo tác.
Không cần một thực thể thứ bảy đứng trên sáu căn để kết hợp tất cả.
Điều này không có nghĩa trải nghiệm bị chia thành những mảnh không liên hệ. Các pháp nương nhau rất sâu. Phân biệt chức năng chỉ giúp chúng ta không biến sự phối hợp thành một chủ thể.
Ý căn còn làm rõ tại sao thế giới nội tâm cũng thuộc phạm vi tiếp xúc.
Chúng ta thường nghĩ chỉ mắt tai mũi lưỡi thân mới tiếp xúc thế giới, còn ý đơn giản ngồi bên trong. Nhưng một ý nghĩ có thể trở thành đối tượng mạnh đến mức tạo cảm thọ, khiến thân căng và dẫn tới hàng loạt tạo tác mới. Một ký ức về việc đã qua có thể làm người ta đau gần như sự việc đang xảy ra. Đối tượng tâm có sức rất thật trong kinh nghiệm.
Không phải vì nó luôn tồn tại ngoài tâm như một vật hiện tại, mà vì khi nó trở thành pháp được ý tiếp nhận, cả một dòng kinh nghiệm có thể hình thành. Điều này cho thấy vì sao đời sống không chỉ được bảo hộ ở năm giác quan. Ý cũng là cửa cần được hiểu. Điều quan trọng hơn là thấy không có phần nào trong sáu căn được miễn khỏi vô thường và Duyên khởi.
Ý có vẻ tinh tế hơn thân nhưng không vì thế thường hằng hơn. Nó thay đổi theo trạng thái tâm, sự học, sức khỏe, định và tập khí.
Một ngày tâm sáng, đối tượng ý được xử lý khác ngày quá mệt. Một người đang sân nhận một ý niệm khác người đã lắng. Chính sự thay đổi ấy đủ cho thấy ý không phải một người điều hành bất biến.
Khi ý được trả về vị trí của một căn, một phần rất sâu của cái tôi mất nơi ẩn. Chúng ta không còn có thể đơn giản nói năm cửa ngoài thuộc thân, còn cửa thứ sáu là tôi thật. Cả sáu đều nằm trong đời sống hữu vi.
Sáu căn thuộc Duyên khởi vì chúng cũng có điều kiện sinh và làm điều kiện cho phần sau#
Trong , sáu xứ xuất hiện trong một vị trí rất quan trọng giữa và xúc. Điều này không nên được hiểu như một dãy vật thể cứng nhắc, nhưng nó cho thấy sáu căn không phải phần đứng sẵn từ đầu để rồi thế giới mới đi vào. Chính khả năng của các cửa nhận biết cũng thuộc tiến trình hữu vi có điều kiện. Danh sắc làm duyên cho sáu xứ. Sáu xứ lại làm duyên cho xúc.
Câu ngắn ấy chứa một ý rất sâu: nơi tiếp xúc với thế giới cũng được sinh trong nhân duyên.
Không có một giác quan vĩnh viễn bước từ đời này sang đời khác. Khi một đời sống hữu vi có điều kiện hình thành, các căn tương ứng thuộc đời sống ấy phát triển trong những duyên của nó. Chính nền ấy cho phép các loại kinh nghiệm tiếp tục xuất hiện.
Ở đây cần tránh một cách hiểu quá cơ học như thể danh sắc hoàn thành xong rồi mới sản xuất sáu căn, sau đó sáu căn hoàn thành xong mới làm xúc. Duyên khởi trong đời sống phức tạp hơn một dây chuyền vật chất. Công thức làm nổi quan hệ điều kiện, không đòi mọi chi phải được tưởng như những vật độc lập xếp thành hàng.
Điểm cốt lõi nằm ở việc sáu căn không tự có. Chúng nương đời sống thân tâm. Và một khi có mặt, chúng trở thành những điều kiện rất quan trọng cho kinh nghiệm tiếp tục.
Mắt làm nền để hình sắc có thể được tiếp nhận theo cửa mắt. Tai làm nền cho thế giới âm thanh. Ý mở vùng của các pháp tâm. Khi các điều kiện tương ứng gặp nhau, xúc có nền phát sinh.
Vì vậy, sáu căn là một mắt xích rất gần với nơi khổ có thể được tiếp tục nuôi. Không phải vì căn tự nó gây khổ.
Nếu mắt là nguyên nhân trực tiếp của tham, người không thấy sẽ không có tham, điều này rõ ràng không đúng. Nếu tai tự gây sân, phải đòi phá hủy tai. Giáo pháp không đi theo hướng ấy. Căn chỉ là một duyên trong kinh nghiệm.
Tham, sân và si còn tùy cách đối tượng được tiếp nhận, cảm thọ, tưởng, tác ý và cái thấy đang có. Điều này rất quan trọng để không biến sáu căn thành kẻ thù.
Có lúc người tu hiểu theo hướng gần như sợ thấy và sợ nghe. Họ nghĩ càng ít tiếp xúc thì càng thanh tịnh. Trong một số hoàn cảnh, giảm kích thích có thể hỗ trợ tâm, nhưng bản chất giải thoát không thể là sự phá bỏ khả năng tiếp xúc.
Một bậc giải thoát còn sống vẫn có mắt thấy, tai nghe và chạm khi các căn hoạt động. Điểm khác nằm ở cách dòng phía sau không còn được và chấp thủ nuôi như trước. Nhìn sáu căn trong Duyên khởi làm thái độ này quân bình. Chúng ta không tôn thờ giác quan như nguồn khoái lạc phải thỏa mãn. Cũng không ghét giác quan như nguyên nhân của ô nhiễm. Chúng là những điều kiện. Cái gì xảy ra từ đó phụ thuộc cả mạng duyên.
Điểm này cũng làm rõ vai trò của . Nếu sáu căn tự động sinh khổ, và Chánh niệm không thể có tác dụng. Nhưng vì khổ được làm thành trong quan hệ của nhiều pháp, việc thay đổi những duyên thuộc tâm có thể làm cùng một xúc chạm dẫn tới kết quả khác.
Một lời chê đi qua tai của người đang nắm cái tôi rất chặt có thể nhanh chóng thành sân. Cũng lời ấy, người đã thấy rõ phần đúng sai và bớt ngã chấp có thể nghe mà không bị cùng mức tổn thương. Tai không đổi chức năng. Điều kiện tâm đã đổi. Đây là cách con đường hoạt động trong Duyên khởi. Không cần phá căn. Thay đổi nền mà căn đang hoạt động trong đó.
Sáu căn cũng cho thấy tại sao tu tập không thể chỉ ở lúc ngồi thiền. Mỗi ngày, từ lúc thức dậy, các cửa liên tục mở vào đối tượng. Nếu vô minh vẫn làm nền, rất nhiều xúc chạm trở thành nơi tập khí cũ được nuôi thêm. Nếu Chánh kiến và sự trưởng thành, chính các tiếp xúc bình thường lại thành nơi Duyên khởi được thấy. Điều này chưa phải phần hướng dẫn hộ trì. Nó chỉ đặt đúng vị trí của sáu căn trong cả con đường. Các căn không đứng ngoài . Cũng không đứng ngoài giải thoát.
Chúng thuộc những điều kiện mà qua đó kinh nghiệm hữu vi đang mở ra, nên chính ở đây rất nhiều pháp phía sau có cơ hội sinh. Khi hiểu như vậy, người học bớt tìm nguyên nhân khổ ở một vật đơn lẻ. Không phải mắt. Không phải sắc. Không phải cảm thọ riêng. Khổ được nuôi khi cả một dòng nhân duyên đi theo hướng vô minh và chấp thủ. Giải thoát cũng đi theo nhân duyên. Chính vì vậy, sáu căn tuy là một phần của đời sống hữu vi, không phải bản án giữ chúng ta trong sinh tử.
Căn mở ra đối tượng nhưng tham sân không nằm sẵn trong sự thấy và nghe#
Một trong những hiểu lầm dễ gặp khi nói về sáu căn là cho rằng chỉ cần tiếp xúc với đối tượng hấp dẫn thì tham tất yếu sinh, gặp đối tượng trái ý thì sân tất yếu có mặt. Nếu nghĩ như vậy, đời sống tâm gần như bị trao hoàn toàn cho thế giới bên ngoài. Thực tế tinh tế hơn.
Một hình sắc đẹp được mắt tiếp nhận. Sự nhận biết tương ứng có mặt. Có thể phát sinh cảm thọ dễ chịu. Nhưng từ đó tham có được nuôi mạnh hay không còn liên hệ với cách tưởng nhận, tác ý, tập khí và cái thấy.
Cùng một đối tượng, người này có thể rất tham trong khi người khác chỉ nhận thấy vẻ đẹp rồi thôi. Sự khác biệt không làm đối tượng mất vẻ đẹp. Nó cho thấy tham không nằm nguyên trong sắc. Sân cũng vậy.
Một âm thanh lớn có thể khó chịu về mặt cảm thọ, nhưng việc tâm dựng người gây âm thanh thành kẻ đáng ghét là bước sâu hơn. Nếu mọi khó chịu tự động là sân, bất kỳ bậc giải thoát nào còn thân cũng phải sân mỗi khi có đau. Giáo pháp phân biệt rất rõ cảm thọ với phản ứng được tạo quanh cảm thọ. Sáu căn vì thế không phải máy phát . Chúng là cửa kinh nghiệm. Cái gì được xây tiếp phụ thuộc nhiều duyên.
Cách nhìn này giúp tránh thái độ sợ đối tượng. Một người có thể tránh một số môi trường vì biết tập khí của mình còn yếu, đó có thể là lựa chọn khôn ngoan. Nhưng nếu từ đó tin rằng thanh tịnh nằm trong việc không bao giờ thấy thứ đẹp, không bao giờ nghe lời trái ý hay không bao giờ gặp kích thích, con đường sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào hoàn cảnh.
Thế giới không thể được tổ chức mãi để vừa với phiền não của chúng ta. Giải thoát cần một nền sâu hơn. Nó làm cách tâm gặp đối tượng thay đổi.
Ở đây, hộ trì các căn bắt đầu ló ra về ý nghĩa nhưng chưa cần triển khai thành phương pháp. Hộ trì không phải đóng sáu cửa. Nếu đóng hoàn toàn, đời sống thường cũng không thể tiếp tục. Hộ trì liên hệ tới việc không để tâm nắm dấu rồi kéo dài tham sân một cách vô thức.
Trong phạm vi sáu căn, điều cần thấy là căn chỉ làm chức năng của căn. Mắt không có lỗi vì thấy. Tai không có lỗi vì nghe. Ý căn cũng không có lỗi vì một pháp bất thiện trở thành đối tượng tâm. Việc tự trách căn hoặc sợ chính đời sống nhận biết làm tu tập dễ biến thành căng thẳng.
Nếu một ý nghĩ bất thiện xuất hiện qua cửa ý, điều ấy chưa tự nó chứng minh người đang sống là xấu. Những gì hành uẩn làm tiếp mới cần được nhìn cụ thể. Nếu người ấy đồng thuận, nuôi dưỡng và tạo tác theo hướng bất thiện, nhân mới đang được thêm. Nếu nhận ra và không tiếp tục, một hướng khác đang được tạo. Tính nhân duyên này làm con đường có sức. Không cần chờ thế giới hoàn hảo.
Chúng ta làm việc ngay với cách các cửa đang được sống. Một hình ảnh hấp dẫn vẫn có thể được thấy mà không phải chuyển thành sở hữu. Một lời trái ý vẫn có thể được nghe mà không nhất thiết thành hận. Một ký ức khó chịu có thể xuất hiện nơi ý mà không bắt buộc phải được nuôi thành câu chuyện kéo dài cả ngày. Những khả năng ấy không đến từ quyết tâm đơn lẻ. Chúng được chuẩn bị bởi giới, định, Chánh kiến và những phẩm chất khác. Chính vì thế, sáu căn liên hệ với toàn bộ con đường chứ không phải một kỹ thuật riêng.
Điều này còn giúp chúng ta hiểu tại sao giải thoát không đồng nghĩa vô cảm.
Nếu mục tiêu là không còn kinh nghiệm dễ chịu khó chịu, người tu sẽ phải loại bỏ phần lớn hoạt động của đời sống. Nhưng một bậc giải thoát khi còn thân vẫn có xúc và cảm thọ thích hợp với điều kiện. Cái đã đổi là sự chấp thủ và các phiền não không còn được nuôi theo cách trước. Các căn vẫn mở. Thế giới vẫn đến.
Không còn một cái tôi phải chạy theo mọi thứ đi qua cửa.
Cách nói này cần được hiểu theo Duyên khởi, không như một khẩu hiệu. Không có cái tôi thường hằng, nhưng vẫn có tập khí và phản ứng khi chưa đoạn. Việc bớt chạy theo là kết quả của những nhân đã được tu tập, không phải chỉ vì chúng ta tuyên bố không có tôi.
Thấy được điều ấy, sáu căn trở nên bình thường mà sâu.
Chúng không thiêng.
Không xấu.
Không phải nguồn hạnh phúc tối hậu. Cũng không phải kẻ thù. Chúng chỉ là nơi đời sống đang gặp đối tượng. Chính cách gặp mới mở ra hướng của khổ hay hướng của trí tuệ.
Không có một chủ nhân đứng giữa sáu cửa để sở hữu toàn bộ kinh nghiệm#
Sau khi đã nhìn các căn là duyên sinh, một câu hỏi rất tự nhiên còn lại: nếu mắt chỉ là căn, tai chỉ là căn và ý cũng chỉ là căn, vậy ai đang dùng tất cả chúng?
Câu hỏi này nghe hợp lý bởi ngôn ngữ và cảm giác đời thường luôn hướng tới một người sở hữu. Đây là mắt tôi.
Tôi nghe.
Tôi đang nghĩ. Từ những câu ấy, tâm gần như tự động hình dung có một chủ nhân nằm phía sau. Nhưng khi tìm chủ nhân trong chính kinh nghiệm, chúng ta lại gặp những pháp đã được phân tích trong năm uẩn và sáu căn. Một cảm giác về tôi có thể xuất hiện. Nó được nhận biết. Một suy nghĩ tôi đang thấy có thể xuất hiện. Nó cũng là đối tượng tâm. Nếu lấy một kinh nghiệm thuộc tâm làm chủ sở hữu của toàn bộ kinh nghiệm, câu hỏi chỉ bị dời thêm một bước. Giáo pháp vô ngã không cần tìm một điểm cuối như vậy.
Một đời sống có thể phối hợp nhiều chức năng bằng nhân duyên mà không cần có một chủ thể đơn nhất đứng ngoài.
Thân thể đã là ví dụ rất gần. Tim đập, phổi hoạt động, tiêu hóa xảy ra mà không cần một người bên trong trực tiếp điều khiển từng chuyển động. Chúng ta có thể ảnh hưởng một số chức năng, nhưng phần lớn đời sống vẫn được duy trì bởi những quan hệ có điều kiện. Sáu căn cũng nằm trong toàn thể ấy.
Mắt không chờ một linh hồn ra lệnh mới phản ứng với ánh sáng. Tai không hỏi ý một chủ thể rồi mới tiếp nhận âm thanh. Ý căn cũng không phải phòng chỉ huy. Sự phối hợp giữa các pháp có thể rất tinh tế, nhưng tinh tế không bắt buộc phải có một tự ngã. Cái thấy này không phủ nhận con người quy ước.
Một người vẫn có trách nhiệm bảo vệ mắt của mình, vẫn phải trả lời khi lời nói gây hại và vẫn được gọi bằng tên. Vô ngã không xóa quyền và trách nhiệm thực dụng. Điều được tháo là quyền sở hữu tuyệt đối.
Khi nói mắt tôi, chúng ta đang nói theo quy ước của một đời sống liên tục. Điều ấy không sai. Nhưng từ quy ước đi tới mắt này phải luôn theo ý tôi vì thật sự thuộc một chủ thể bất biến là bước thêm mà Duyên khởi không hỗ trợ. Sự sở hữu tuyệt đối luôn đụng vô thường.
Mắt suy thì chúng ta đau vì mất khả năng, nhưng nếu đồng nhất sâu với nó, nỗi đau còn mang tầng tôi đang bị mất một phần của chính mình. Tai giảm, thân thay đổi hay ý không còn sắc bén như trước đều có thể gây cùng dạng khủng hoảng. Cái thấy vô ngã không làm mất cảm giác tiếc. Nó làm sự mất mát bớt bị biến thành mất bản thể.
Một khả năng có thể mất mà giá trị quy ước của con người không biến mất. Sáu căn thay đổi mà dòng trách nhiệm và nhân quả vẫn tiếp tục. Không cần một chủ nhân bất biến để giữ điều ấy.
Chính ở đây, việc phân biệt sử dụng với sở hữu tuyệt đối trở nên hữu ích. Chúng ta sử dụng mắt trong đời sống, nhưng cách dùng không chứng minh mắt là tự ngã. Chúng ta dùng ý để suy xét, nhưng khả năng suy xét chịu điều kiện, có lúc sáng có lúc mờ. Một công cụ có người sở hữu bên ngoài, còn sáu căn không phải công cụ theo nghĩa đó, nói sử dụng chỉ là quy ước.
Nếu bám vào hình ảnh người sử dụng, ngã chấp lại trở về. Vì vậy, quán sâu hơn chỉ cần thấy hoạt động đang xảy ra. Thấy có điều kiện của thấy. Nghe có điều kiện của nghe. Ý nhận pháp có điều kiện của nó. Không cần đẩy mọi hoạt động về một trung tâm.
Một điều rất đáng chú ý là khi không còn phải bảo vệ trung tâm, kinh nghiệm thường trở nên rộng hơn. Lời chê không còn dễ biến thành họ đang xúc phạm toàn bộ tôi nếu chữ tôi bớt cứng. Một cơn đau nơi thân vẫn cần chăm, nhưng nó không nhất thiết phải kéo cả căn cước vào.
Sáu căn không trực tiếp giải quyết mọi chấp thủ, nhưng chúng làm rõ chỗ bản ngã thường chen vào kinh nghiệm. Mắt vừa thấy, chữ tôi có thể lập tức sở hữu cái thấy. Tai vừa nghe, lời ấy nói với tôi có thể làm phản ứng nặng lên. Ý vừa gặp một ký ức, chuyện của tôi làm nó có sức rất lớn. Khi sự chiếm hữu được thấy, vô ngã không còn là một lý thuyết. Nó xuất hiện ngay tại các cửa. Không có một chủ nhân phải bị tiêu diệt. Chỉ có thói quen nắm các chức năng duyên sinh thành tôi và của tôi đang được nhìn rõ hơn.
Càng thấy như vậy, việc buông bớt xảy ra tự nhiên hơn. Không cần chống sáu căn. Không cần phủ nhận người quy ước. Chỉ bớt giao cho những pháp vô thường nhiệm vụ chứng minh có một cái tôi thường còn.
Thấy sáu căn đúng vị trí là chuẩn bị nhìn thế giới bên ngoài mà không dựng thêm một cái tôi#
Sáu căn mở ra toàn bộ đời sống kinh nghiệm, nhưng chúng không hoạt động một mình. Mắt chỉ trở thành nền của một kinh nghiệm cụ thể khi có hình sắc tương ứng và nhận biết thích hợp. Tai cũng cần âm thanh, những căn khác đều có đối tượng riêng. Ý căn mở vùng của pháp thuộc tâm.
Vì vậy, hiểu sáu căn mới chỉ là một phía của cuộc gặp.
Phía kia là sáu trần.
Nếu chỉ nhìn căn mà bỏ đối tượng, kinh nghiệm có vẻ như tự sinh từ bên trong. Nếu chỉ nhìn đối tượng mà bỏ căn, chúng ta dễ nghĩ thế giới bên ngoài trực tiếp đổ nguyên vẹn vào tâm. Duyên khởi giữ cả hai phía và sau đó còn cần thức để xúc có nền hình thành.
Cái nhìn này làm thế giới mất dần vẻ chia cắt thành tôi ở đây và mọi thứ ở ngoài kia theo cách tuyệt đối. Không phải vì trong ngoài trở thành một. Ở mức quy ước vẫn có thân này và vật kia, căn bên trong và đối tượng bên ngoài. Nhưng cuộc gặp giữa hai phía không cần một tự ngã đứng giữa. Khi mắt gặp sắc trong điều kiện thích hợp, nhận biết sinh. Kinh nghiệm tiếp tục theo duyên. Chính quan hệ, chứ không phải một chủ thể độc lập, làm đời sống được mở.
Thấy sáu căn đúng như vậy còn giúp thái độ tu tập bớt cực đoan. Các căn không cần bị tôn thờ bởi chúng không thể bảo đảm hạnh phúc. Nhưng cũng không cần bị ghét bởi chúng chỉ đang làm chức năng.
Một đời sống chạy theo khoái lạc qua các căn thường giao cho đối tượng nhiệm vụ làm mình đầy đủ. Khi một cái đẹp xuất hiện, tâm muốn có, khi âm thanh dễ chịu đến, muốn kéo dài, khi cảm giác thân thuận lợi, muốn giữ. Nếu những cửa ấy được dùng như con đường tìm hạnh phúc tuyệt đối, bất an đã nằm sẵn vì căn, cảnh và thọ đều đổi. Phía đối nghịch là sợ các căn.
Một người có thể muốn tránh mọi hình ảnh, âm thanh và xúc chạm vì cho rằng chính tiếp xúc làm tâm ô nhiễm. Nhưng nếu phiền não còn nguyên, chỉ cần cửa ý cũng đủ để tham sân tiếp tục sống qua ký ức và tưởng. Giải thoát không nằm trong việc trốn thế giới. Nó nằm trong sự thay đổi cách nhân duyên của khổ được nuôi.
Sáu căn nhờ vậy trở thành một vùng rất thực của . Chúng ta không phóng theo mọi thứ đi qua cửa. Cũng không đóng cửa bằng sân. Căn làm chức năng của căn, còn trí tuệ dần học nhìn toàn bộ dòng phía sau.
Đến đây, một nét khác của vô ngã cũng hiện rõ hơn. Nếu các căn là của tôi theo nghĩa tuyệt đối, chúng ta phải giữ được chúng. Nếu đối tượng tồn tại để phục vụ tôi theo nghĩa tuyệt đối, chúng ta phải điều khiển được những gì chúng mang tới. Nhưng cả hai phía đều vượt khỏi quyền lực như vậy.
Thế giới không được thiết kế để cung cấp cảm giác theo ý một cá nhân. Sáu căn cũng không bảo đảm khả năng tiếp nhận mãi mãi. Khổ rất dễ sinh khi tâm đứng giữa hai điều vô thường rồi đòi cả hai phải phục vụ một cái tôi. Duyên khởi tháo yêu cầu ấy. Không bằng sự bi quan. Bằng cái thấy đúng. Khi mắt còn thấy, thấy được dùng sáng suốt. Khi tai còn nghe, nghe được sống trong tỉnh thức. Ý còn hoạt động thì khả năng suy xét có thể được hướng về pháp. Nhưng không phần nào được xem là tài sản không thể mất.
Một cách sống như vậy làm hiện tại trở nên quý hơn thay vì vô nghĩa. Chính vì các căn có hạn nên khoảng thời gian chúng còn hoạt động đáng được sử dụng cẩn trọng. Không cần ám ảnh về mất mát, chỉ cần biết điều kiện đang có không được bảo đảm.
Sự hiểu ấy cũng chuẩn bị cho việc đi vào sáu trần.
Bởi nếu căn là nền bên trong, đối tượng tương ứng là phần mà căn hướng tới. Hình sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm và các pháp thuộc tâm sẽ cho thấy một điều quan trọng khác: cái làm chúng ta thích hay ghét không tự mang sẵn toàn bộ sức kéo trong chính nó. Một cảnh đẹp không chứa một mệnh lệnh phải tham. Một âm thanh khó chịu không mang sẵn cơn sân.
Đối tượng có tính chất của nó, nhưng thế giới kinh nghiệm chỉ được hình thành qua sự gặp của nhiều duyên.
Khi xét sáu trần, chúng ta sẽ đi sâu vào chính phần này, đồng thời giữ rõ rằng đối tượng không phải một thực thể được tâm hoàn toàn tạo ra cũng không phải nguồn độc lập quyết định mọi cảm giác.
Sáu căn vì thế kết thúc ở một chỗ rất tự nhiên.
Chúng đã cho thấy những cửa bên trong không phải tự ngã, không độc lập, không làm chủ kinh nghiệm và không phải nguyên nhân tự thân của phiền não. Chúng là những nền duyên sinh. Qua đó đời sống mở ra.
Và cũng chính vì chúng chỉ là duyên, những gì xảy ra sau cửa không bị định sẵn. Thế giới sẽ tiếp tục đi vào.
Câu hỏi kế tiếp không còn là làm sao đóng sáu cửa, mà là những gì đang đứng phía bên kia các cửa ấy thực sự có bản chất gì, và tại sao tâm lại dễ biến chúng thành thứ phải có hoặc phải tránh?