Sợi Chỉ Đỏ

CHƯƠNG 62

Bảy tùy miên

Những khuynh hướng ngủ ngầm chờ đủ duyên

Tuyến 7: Những trói buộc và điều kiện thiện lànhKhoảng 34 phút đọcBản in tr. 1395

Điều chưa khởi lên vẫn có thể là điều chưa được đoạn tận#

Suốt một thời gian dài, chúng ta có thể không còn bực bội với một chuyện cũ. Sự việc đã lùi xa, những người liên hệ không còn xuất hiện, và tâm dường như đã hoàn toàn yên ổn. Nhưng rồi một hoàn cảnh tương tự đến gần. Chúng ta nhận thấy lòng chống đối khởi lên nhanh hơn mình tưởng, như thể khoảng thời gian vừa qua chưa đủ làm thay đổi cách tâm đáp lại. Điều đáng xem xét không chỉ là cơn giận vừa xuất hiện. Còn một câu hỏi sâu hơn: sự yên ổn trước đó đã thật sự đi đến đâu?

Nếu chỉ nhìn những trạng thái đang có mặt, chúng ta dễ đánh giá việc theo từng ngày thuận lợi hoặc khó khăn. Hôm nào tâm ít tham muốn thì nghĩ tham đã yếu hẳn. Khi sống giữa những người hòa nhã, ít gặp điều trái ý, chúng ta có thể tin không còn là vấn đề. Trong một thời gian ít phải lựa chọn, tâm cũng không bộc lộ sự phân vân từng khiến mình trở ngại. Những nhận xét ấy có thể đúng về hiện trạng. Nhưng chúng chưa đủ để xác định các gốc bất thiện đã được .

Đức Phật chỉ dạy một nhóm pháp giúp chúng ta hiểu sự khác biệt này. Đó là : , sân, kiến, nghi, mạn, hữu tham và . Chữ tùy miên nói đến những khuynh hướng ô nhiễm còn tiềm ẩn, có khả năng biểu hiện khi những điều kiện thích hợp được hội đủ. Người tu cần nhận biết chúng để tu tập đoạn trừ, thay vì chỉ dựa vào sự vắng mặt tạm thời của .

Trong một lời dạy về , Đức Phật nêu trường hợp một đứa trẻ còn quá nhỏ để hình thành những quan niệm rõ ràng. Đứa trẻ chưa biết thế nào là một bản ngã theo nghĩa được người lớn suy nghĩ, cũng chưa hiểu các phép tắc để chấp giữ chúng. Sự không biểu hiện ấy không có nghĩa mọi khuynh hướng trói buộc đã được đoạn tận. Qua đó, Đức Phật làm rõ khoảng cách giữa việc một phiền não chưa hiện hành và khả năng nó còn sinh khởi.

Chúng ta cũng cần giữ đúng giới hạn của cách nói ngủ ngầm. Không có một kho bí mật cất sẵn bảy vật thể trong tâm, đợi tới lúc thích hợp thì lấy ra. Các được nói đến theo chiều hướng và sức chi phối của những pháp chưa được nhổ tận gốc. Chúng liên hệ với vô minh, với những điều đã được nuôi dưỡng, với xúc và cách tâm đáp lại cảm thọ. Khi đổi khác, những khuynh hướng ấy có thể được biểu lộ hoặc không biểu lộ.

Chữ ngủ ngầm cũng không hàm nghĩa rằng một phiền não lúc nào cũng phải hiện diện dưới dạng một ý nghĩ rất nhỏ. Có khi chúng ta hoàn toàn không mình đang nghĩ đến đối tượng từng khiến tham sinh khởi. Nhưng điều đó chưa cho phép kết luận lòng tham tương ứng không còn khả năng trở lại. Cũng không nên suy ngược rằng mỗi phản ứng khó chịu tất yếu chứng minh một khuynh hướng bất thiện đã được nuôi từ rất lâu. Pháp đang sinh cần được nhận biết trong những điều kiện thực tế của nó.

Một điểm nữa đáng được phân biệt là sự chế ngự và sự đoạn tận. Nhờ giữ giới, tránh những hoàn cảnh dễ buông lung và phát triển định, người tu có thể không để phiền não chi phối hành vi trong một thời gian. Đây là thành quả chân chánh, có giá trị thiết thực. Tuy nhiên, chế ngự điều đang có mặt khác với đoạn trừ tận gốc khả năng nó sinh khởi. Chính nhờ phân biệt được hai mức độ ấy, chúng ta vừa trân trọng công phu đã làm, vừa không vội hài lòng với sự yên lắng nhất thời.

Vì vậy, học bảy tùy miên không nhằm khiến chúng ta nghi ngờ mọi giây phút bình an. Một ngày tâm ít sân vẫn là một ngày có điều kiện thuận lợi cho việc sống không hại. Một ham muốn được nhận ra rồi không tiếp tục nuôi dưỡng vẫn là điều đáng quý. Chỉ cần đừng lấy sự yên lặng ấy làm bằng chứng rằng căn nguyên đã chấm dứt. Sự tu tập sẽ chân thật hơn khi chúng ta nhìn cả điều đang biểu hiện và chiều sâu chưa được nhận biết đầy đủ.

Dục tham tùy miên: Khi sự ưa thích vẫn có đường trở lại#

Một từng đem lại nhiều thích thú có thể vắng bóng rất lâu mà không làm chúng ta nhớ đến. Đến lúc bất ngờ nghe lại, tâm lập tức muốn dừng việc đang làm để tiếp tục thưởng thức. Âm thanh vừa xuất hiện đã có khả năng dẫn sự chú ý đi theo một hướng quen thuộc. Điều này chưa đủ để gọi là một sự đắm nhiễm nghiêm trọng. Nhưng nó giúp chúng ta nhận ra rằng sức hấp dẫn của đối tượng có thể được tiếp nhận theo một cách đã trở nên quen thuộc.

liên hệ đến khuynh hướng tham đắm các dục, những khoái lạc nương vào đối tượng của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Khi có dịp tiếp xúc, tâm có thể nghiêng về hưởng thụ, muốn giữ lại hoặc tìm thêm điều làm mình dễ chịu. Khuynh hướng ấy đáng được thấy rõ ở cách tâm tiếp tục bám theo đối tượng, nhất là khi việc tìm kiếm khoái lạc khiến chúng ta xao lãng điều chân chánh.

Điều đáng chú ý là không phải cứ có thì dục tham tùy miên nhất định đang chi phối. Đức Phật phân biệt rất rõ điều này trong lời giảng về . Đối với lạc thọ, khuynh hướng tham là điều cần được đoạn trừ, nhưng không phải mọi lạc thọ đều có tham tùy miên đi kèm. Có những niềm vui xuất hiện trong sự ly dục và , nơi lòng đang được từ bỏ. Bởi vậy, chúng ta phải nhận biết phẩm chất của sự vui thích, thay vì xét nó chỉ qua cảm giác dễ chịu.

Nghe một bản nhạc hay, chúng ta vẫn có thể thưởng thức rồi trở lại điều cần làm khi âm thanh chấm dứt. Nhưng nếu bị cuốn vào việc tìm kiếm liên tục, tâm sẽ khó chấp nhận khi phải dừng và dễ bực bội trước những điều ngăn trở. Sự khác biệt không nằm trọn trong bản nhạc. Nó liên hệ tới cách tâm hưởng ứng, nuôi dưỡng và chấp giữ sự dễ chịu vừa được tiếp xúc.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể nhìn một lần thưởng thức mà biết hết mức độ dục tham của người khác. Cùng một biểu hiện bên ngoài có thể đi cùng những chủ ý khác nhau. Người đang nghỉ ngơi sau lúc mệt mỏi và người cố tìm khoái lạc để trốn tránh trách nhiệm có thể cùng lựa chọn một sinh hoạt. Việc học về tùy miên phải giúp người tu hiểu tâm mình, chứ không biến mọi sự ưa thích của người khác thành dấu hiệu để phán xét.

Khi đối tượng chưa hiện diện, dục tham có thể không khởi thành sự mong cầu rõ ràng. Nếu vì vậy mà chúng ta vội kết luận tham đã đoạn tận, lần tiếp xúc sau có thể làm sự tự tin ấy lung lay. Nhưng phản ứng trở lại cũng có thể trở thành một cơ hội quan sát. Chúng ta nhận ra đối tượng đã tác động đến cảm thọ ra sao, sự chú ý đang dừng lại ở đâu, và lòng muốn tiếp tục bắt đầu được nuôi thế nào. Điều gì được thấy đúng sẽ có thêm cơ sở để được xử lý đúng.

Trong pháp hành, Đức Phật dạy nhận biết , sự nguy hại và con đường đối với các dục. Vị ngọt là sự dễ chịu có thật, không cần phủ nhận. Sự nguy hại là tính bị điều kiện chi phối của khoái lạc và những khổ lụy do tham đắm gây ra. Sự xuất ly được mở ra khi tâm không còn lấy việc thỏa mãn dục làm nơi nương tựa. Ba phương diện ấy giúp việc quán sát có chiều sâu hơn nỗ lực đơn giản là tránh mọi đối tượng dễ chịu.

Có lúc một ham muốn được chế ngự vì chúng ta không đi theo nó. Việc ấy có thể bảo hộ giới hạnh và giúp tâm trở lại ổn định. Nhưng nếu khi được tiếp xúc lần nữa, sức tham vẫn dễ lôi kéo, khuynh hướng tương ứng còn cần được tu tập. Người thực hành không phải thất vọng vì điều đã nhận ra. Chỉ nên thấy rằng sự từ bỏ đang tiếp tục đòi những điều kiện sâu hơn, nhất là trí tuệ về tính chất của cảm thọ và sự nắm giữ.

Điều đáng quý của việc nhận ra dục tham tùy miên là tâm dần bớt ngây thơ trước chính điều mình ưa thích. Chúng ta không còn tưởng rằng chỉ cần đối tượng vắng mặt thì lòng tham đã hết. Cũng không phải sợ hãi mỗi niềm vui chân chánh. Sự hiểu biết giúp phân biệt niềm vui đang được nhận biết với lòng đắm nhiễm đang được nuôi. Nhờ vậy, những điều kiện làm phát sinh tham có thể được chăm sóc đúng hướng.

Sân tùy miên: Sức chống đối có thể còn sau khi cơn giận đã lắng#

Thân đang đau khiến một cử động nhỏ cũng trở nên khó chịu. Trong tình trạng ấy, một yêu cầu bình thường có thể bị nghe như sự thúc ép. Chúng ta chưa kịp xét người kia có biết mình đang đau hay không, tâm đã muốn chống lại hoặc nói lời gay gắt. nơi thân và ý muốn chống đối xuất hiện rất gần nhau, nhưng cần được nhận biết như những phương diện khác nhau.

là khuynh hướng nghiêng về chống đối, bực tức hoặc ác ý khi gặp điều trái ý. Có khi nó dễ nhận ra trong một cơn giận rõ ràng. Cũng có khi nhiều ngày không xuất hiện phản ứng ấy, rồi đến một hoàn cảnh bất lợi, tâm lại đi theo lối đáp trả đã quen. Sự vắng mặt của sân hiện hành chưa đủ bảo đảm sức nghiêng ấy được đoạn tận.

Trong lời dạy về cảm thọ, Đức Phật liên hệ khổ thọ với sân tùy miên. Nhưng Ngài cũng xác nhận rằng không phải mọi khổ thọ đều có sân tùy miên đi kèm. Đây là một giới hạn rất quan trọng. Cơn đau có thể được nhận biết mà không biến thành lòng oán ghét. Sự buồn lòng có thể hiện diện nhưng người tu vẫn không mong gây tổn hại cho ai. Nếu đồng nhất khổ thọ với sân, chúng ta sẽ nhận sai chính điều cần thực hành.

Khi thân đang bệnh, thuốc men, nghỉ ngơi và sự chăm sóc thích hợp có thể rất cần thiết. Chúng ta không thể yêu cầu người ấy hết đau chỉ bằng cách bảo rằng phải dứt sân. Khổ thọ nơi thân có những điều kiện của thân. Điều có thể được tu tập là cách tâm đối diện với khổ thọ, để nỗi đau không bị nối tiếp bằng ác ý hoặc sự chống đối không cần thiết. Khi có sự sáng rõ, một người vẫn có thể tìm cách chữa trị, nói rõ giới hạn của mình và nhận sự giúp đỡ.

Sân cũng có thể khởi khi chúng ta thấy hành vi bất chính. Sự nhận ra điều sai và quyết định ngăn tổn hại không tự động trở thành sân hận. Nhưng nếu tâm tiếp tục muốn người gây lỗi phải đau đớn để mình được hả dạ, một chiều bất thiện đã xen vào việc cần giải quyết. Nhận ra điều ấy giúp chúng ta không nhầm sự nghiêm túc với ác ý, cũng không dùng lòng không sân để biện hộ cho sự cam chịu trước điều gây hại.

Có những mối bất hòa không còn được nhắc đến nhưng phản ứng chống đối vẫn có thể trở lại. Tâm giữ được vẻ bình thường vì không gặp điều gợi nhớ, hoặc vì hoàn cảnh chưa đòi một cuộc đối diện. Khi sự việc liên hệ xuất hiện, cái nhìn có thể nhanh chóng thu hẹp, chỉ còn phần khiến mình bất mãn. Đó là lúc chúng ta cần học nhìn lại cách tâm đang diễn giải, chứ không chỉ lo che giấu vẻ khó chịu bên ngoài.

Tuy nhiên, không phải mọi sự dè dặt đối với một người từng gây hại đều chứng tỏ sân tùy miên. Kinh nghiệm có thể dạy chúng ta giữ khoảng cách an toàn, xác minh lời hứa và đặt những giới hạn cần thiết. Biết phòng ngừa tổn thương mà không nuôi ý muốn trả đũa có thể là một cách hành động rất đúng. Việc nhận diện sân phải căn cứ vào tính chất chống đối bất thiện, không căn cứ đơn thuần vào sự thân thiết hay xa cách.

Để làm yếu khuynh hướng ấy, người tu cần nhìn cả những điều kiện đang nuôi dưỡng nó. Sự chú ý cứ trở về với lỗi lầm của người khác có thể làm sân tăng trưởng. Thói quen diễn giải mọi bất tiện thành sự xúc phạm cũng khiến tâm dễ mất bình tĩnh. Việc phát triển , suy xét có căn cứ và giữ giới hạn chân chánh có thể giúp chúng ta không tiếp sức cho ác ý. Nhưng không nên biến những phương pháp ấy thành lệnh phải lập tức cảm thấy vui vẻ trong mọi nghịch cảnh.

Sự tiến bộ chân thật có khi rất kín đáo. Trước đây, một cảm giác đau hoặc lời nói trái ý lập tức đưa tâm tới ý muốn đáp trả. Về sau, chúng ta vẫn nhận biết khổ thọ, nhưng có thêm khoảng sáng để xem điều gì cần làm. Sân chưa chắc đã được đoạn tận, song sự đáp trả bất thiện không còn dễ được chấp nhận như trước. Từ sự nhận biết ấy, người tu tiếp tục đi sâu, không dừng ở việc giữ một vẻ ngoài ôn hòa.

Kiến tùy miên: Khi một cách nhìn sai còn có sức dẫn đường#

Một kết luận đã được tin từ lâu thường đi trước sự quan sát. Khi gặp điều mới, chúng ta có thể chỉ tìm những chi tiết phù hợp với kết luận ấy. Phần không phù hợp bị xem là ngoại lệ hoặc bị bỏ qua. Sự việc chưa được hiểu đầy đủ, nhưng cách nhìn cũ đã quyết định điều gì đáng tin. Nếu khuynh hướng này liên hệ đến những căn bản, nó trở thành một vấn đề sâu hơn sự thiếu cẩn trọng thông thường.

chỉ khuynh hướng bám giữ những quan điểm sai lạc chưa được đoạn tận. Trong giáo pháp, tà kiến có thể liên hệ tới việc chấp là tự ngã hoặc phủ nhận ý nghĩa của nghiệp và quả. Nó cũng gồm những cách nhìn trái với sự thật cần được chứng biết. Khi khuynh hướng ấy còn, tâm có thể tiếp tục diễn giải kinh nghiệm theo chiều sai lạc, ngay cả khi chưa phát biểu thành một chủ thuyết rõ ràng.

Chúng ta cần phân biệt khuynh hướng ấy với một sai sót kiến thức thông thường. Nhớ nhầm thời gian một sự kiện, hiểu sai một lời chỉ dẫn hoặc chưa biết câu trả lời cho vấn đề chuyên môn không đủ để xác định kiến tùy miên. Những điều ấy có thể được sửa bằng thông tin. Còn tà kiến thuộc phạm vi tu tập liên hệ đến cách chấp giữ và nhận thức sai về những sự thật căn bản mà Đức Phật chỉ dạy.

Một biểu hiện đáng được suy xét là sự đồng hóa các uẩn với tự ngã. Khi sắc thân thay đổi, chúng ta có thể nghĩ chính một thực thể bên trong đã bị tổn thương. Khi một ý kiến bị bác bỏ, tâm có thể thấy như bản thân đang bị phủ nhận. Những kinh nghiệm này cần được nhìn kỹ, nhưng không phải bất cứ cảm giác tổn thương nào cũng cho phép kết luận một quan điểm ngã chấp đã được xác lập đầy đủ. Điều cần học là thấy khi nào thân tâm đang bị nhận lầm thành một chủ thể thường hằng có thể nắm giữ.

Đức Phật đã dùng trường hợp đứa trẻ chưa có những quan niệm về bản ngã để làm sáng tỏ tính chất tiềm ẩn của một số trói buộc. Việc chưa có khả năng nói ra một quan điểm sai không đồng nghĩa với sự đoạn tận khuynh hướng tương ứng. Khi các điều kiện nhận thức và chấp giữ hình thành, cách nhìn sai có thể biểu hiện. Điều đó cũng nhắc chúng ta đừng lấy sự im lặng của ngôn từ làm tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá một cái thấy.

Có người không thích tranh luận về bản ngã và rất ít nhắc đến mình, nhưng sự im lặng ấy chưa chứng minh đã thấy rõ năm uẩn. Ngược lại, người nói nhiều về cũng chưa chắc đã trực nhận tính duyên sinh của thân tâm. Những câu nói đúng có giá trị hướng dẫn, nhưng sự đoạn trừ tà kiến đòi cái thấy tương ứng. Người tu vì vậy cần học pháp, suy xét đúng và quán sát những hiện tượng thực sự được kinh nghiệm.

Tuy nhiên, từ bỏ kiến tùy miên không có nghĩa xóa bỏ mọi sự phân biệt đúng sai. Đức Phật dạy , và Chánh kiến là một thành phần thiết yếu của con đường. Chúng ta vẫn cần biết hành động nào thiện, điều nào bất thiện, đâu là khổ và đâu là nguyên nhân của khổ. Vấn đề nằm ở việc chấp giữ quan điểm sai, hoặc nắm chặt những điều được hiểu bằng khái niệm mà không chịu để sự thật soi sáng lại.

Sự tu tập kiến tùy miên vì vậy không thể chỉ là tập nói những câu khiêm nhường. Dù thường nhận mình chưa biết, chúng ta vẫn có thể âm thầm tin chắc một nhận định sai về nghiệp hoặc tự ngã. Người khác có thể phát biểu rất mạnh mẽ về mà thật sự có căn cứ nơi việc học hỏi. Chúng ta cần xem tính đúng sai và cách nhận biết, không chỉ xem âm lượng hay vẻ quả quyết của lời nói.

Khi năm uẩn được quán sát trong sự sinh khởi và đoạn diệt, cách chấp chúng là một cái tôi có thể được tháo gỡ bằng trí tuệ. Một sự nhận biết đúng hơn sẽ làm thay đổi cách tâm nương tựa vào những quan niệm cũ. Đó là sự chuyển biến sâu hơn việc đổi một ý kiến để theo một ý kiến khác. Điều từng được xem là chắc thật bắt đầu được thấy đúng theo nhân duyên, và sức dẫn đường của tà kiến có điều kiện suy yếu.

Nghi tùy miên: Khi con đường đã được nghe mà lòng vẫn chưa có chỗ đứng vững#

Một lời dạy có thể được ghi nhớ chính xác mà chưa trở thành điều chúng ta thật sự tin hiểu. Khi gặp hoàn cảnh thuận lợi, sự khác biệt ấy ít được nhận ra. Nhưng lúc việc tu tập đòi sự kiên trì, tâm có thể quay lại câu hỏi cũ: con đường này có thật sự đưa đến chấm dứt khổ hay không? Sự do dự ấy có khi được nói ra, có khi chỉ hiện lên như một sức ngần ngại khiến chúng ta không chịu bước tiếp.

liên hệ đến khuynh hướng hoài nghi chưa được đoạn tận đối với những điều căn bản thuộc Chánh pháp và sự tu tập. Cần phân biệt khuynh hướng ấy với khả năng đặt câu hỏi sáng suốt. Người chưa hiểu có quyền và cũng cần tìm hiểu. Nhờ hỏi đúng, đối chiếu lời dạy và quán sát thực tế, nhiều chỗ mơ hồ có thể được làm sáng rõ. Sự tìm hiểu như vậy có khả năng hỗ trợ Chánh kiến, chứ không nhất thiết là chướng ngại.

Nghi làm trở ngại khi tâm bị giữ trong một sự phân vân không chịu đi đến chỗ học hiểu hoặc thực hành. Chúng ta có thể đã có đủ căn cứ để bắt đầu, nhưng vẫn đòi bảo đảm rằng mọi khó khăn sẽ biến mất trước khi chịu tu tập. Mỗi khi gặp trở ngại, những điều từng hiểu trở nên không còn đủ sức nâng đỡ. Việc đổi sang một cách tìm kiếm khác chưa chắc giải quyết sự thiếu vững vàng ấy.

Tuy vậy, không nên vội dùng chữ nghi để buộc một người chấp nhận điều họ chưa hiểu. Đức Phật không dạy rằng sự tin tưởng phải được tạo bằng cách ngừng suy xét. Có những câu hỏi liên hệ trực tiếp tới việc giữ giới, hành thiền và nhận biết khổ, cần được giải đáp cẩn thận. Có những lời giảng chưa chính xác cần được đối chiếu với kinh. Nếu chúng ta lấy làm lý do ngăn sự kiểm chứng, việc học Chánh pháp có thể bị thay bằng sự phụ thuộc vào uy tín của người nói.

Một điểm tinh tế của nghi tùy miên là nó có thể chưa hiện hành khi chúng ta đang sống trong bầu không khí cùng niềm tin. Nghe mọi người tán thán một phương pháp, tâm cảm thấy an tâm và dễ dàng đồng thuận. Nhưng khi không còn sự nâng đỡ ấy, một khó khăn nhỏ có thể khiến sự do dự cũ trở lại. Điều đó cho thấy sự thuận theo môi trường và lòng tin có căn cứ trong chính mình chưa nhất thiết giống nhau.

Sự tin hiểu được trưởng dưỡng nhờ học đúng, suy xét đúng và thấy tác dụng thực tế của việc từ bỏ bất thiện. Khi chúng ta nhận biết rõ tác hại của sân và thực hành lòng không hại, lời dạy bắt đầu có một chỗ nương nơi kinh nghiệm. Khi thấy sự bám giữ làm khổ tăng trưởng, rồi nhận ra điều gì thay đổi khi bớt chấp, sự tin tưởng có thêm chiều sâu. Nhưng các kết quả trước mắt vẫn cần được hiểu đúng mức, một vài ngày an tĩnh không thể thay cho toàn bộ trí tuệ .

Có lúc sự do dự xuất phát từ việc chúng ta học quá nhiều lời giải thích khác nhau mà chưa hiểu phạm vi của từng lời. Khi một thuật ngữ được giảng theo hai cách, tâm vội kết luận giáo pháp mâu thuẫn. Sự cẩn trọng lúc ấy là trở về chánh văn, tìm đúng hoàn cảnh, đối tượng và mục đích của lời dạy. Không nên tự buộc mình phải lựa chọn bằng sự cảm tính. Hiểu rõ hơn có thể làm một nghi vấn thực sự được giải quyết, thay vì chỉ bị nén xuống.

Nghi tùy miên không được đoạn tận bằng việc cứ tự nhắc rằng mình không còn nghi. Người tu có thể không nói ra điều băn khoăn vì sợ bị xem là thiếu lòng tin, nhưng sự im lặng ấy không tạo ra trí tuệ. Sự thành thật với điều chưa biết giúp chúng ta tìm phương pháp học hỏi thích hợp. Khi những căn cứ được thấy rõ hơn, tâm có khả năng đứng vững mà không cần gồng mình tỏ ra chắc chắn.

Vì vậy, chúng ta không đo sức của đức tin bằng việc một người có bao nhiêu câu trả lời sẵn. Điều đáng quan tâm là sự tin tưởng ấy có được đặt trên cái thấy chân chánh, có giúp họ tiếp tục học và thực hành đúng hay không. Từ những hiểu biết được kiểm chứng trong pháp hành, khuynh hướng do dự có thể được làm suy yếu. Nhưng sự chấm dứt rốt ráo của nghi cần được hiểu theo trí tuệ , không được tự nhận chỉ vì hôm nay không còn câu hỏi nào.

Mạn tùy miên: Dấu vết rất tế của cảm nhận tôi là#

Sự hơn thua đôi khi đã lắng mà ý niệm về người đang hơn thua vẫn còn. Chúng ta có thể không muốn đứng trên ai hoặc được khen giỏi hơn. Dù vậy, một cảm giác âm thầm vẫn khởi lên: chính mình là người đạt được sự bình thản ấy. Điều này cho thấy phạm vi của mạn sâu hơn thói kiêu căng thường được nhận ra trong giao tiếp.

là khuynh hướng tự đặt mình trong một cảm nhận về tôi, từ đó có thể sinh sự so sánh và đo lường. Trong đời sống, mạn biểu hiện rõ khi cho mình hơn người khác. Nhưng mạn cũng có thể liên hệ tới cảm giác mình bằng người hoặc thua người, khi cái tôi vẫn là điểm được đem ra cân nhắc. Bởi vậy, sự tự ti không tự động cho thấy tâm đã hết mạn, đôi khi nó vẫn lấy hình ảnh bản thân làm trung tâm.

Tuy nhiên, chúng ta không nên đánh đồng sự nhận biết khả năng thực tế với mạn. Biết mình chưa đủ sức làm một việc có thể là sự nhận định sáng suốt. Người có kỹ năng cần thiết có thể nhận trách nhiệm để giúp việc chung hoàn thành. Sự phân biệt về năng lực là điều đời sống quy ước vẫn cần. Mạn nằm ở sức chấp vào tôi trong sự đánh giá, nơi chúng ta tìm một địa vị cho bản thân để nương tựa hoặc tự khẳng định.

Trong lời dạy về năm uẩn, có một sự phân biệt đặc biệt quan trọng. Một vị đã từ bỏ quan điểm xem năm uẩn là tự ngã vẫn có thể chưa đoạn tận cảm nhận vi tế về tôi là. Vị ấy không còn xác quyết rằng sắc, thọ, tưởng, hành hay thức chính là một tự ngã, nhưng dấu vết của cảm nhận tôi là vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt. Điều này cho thấy và mạn tùy miên không đồng nhất, dù chúng có quan hệ sâu sắc.

Vì vậy, sau khi hiểu vô ngã bằng lý luận, chúng ta không nên nghĩ rằng mọi hình thức sẽ tự động tan hết. Ngay cả lúc đã biết không thể nắm một uẩn làm cái tôi thường còn, tâm vẫn có thể âm thầm lấy việc hiểu biết và tu tập làm một chỗ đứng. Nó không nhất thiết nói rằng mình cao hơn ai. Chỉ cần sự thành tựu được nhận như một xác nhận cho một cái tôi đáng giữ, chiều tinh tế của mạn đã có cơ hội được nuôi dưỡng.

Có một kiểu tự phụ được che dưới sự khiêm nhường của lời nói. Chúng ta có thể cố ý nhận phần thấp hơn để được người khác khen là không tranh hơn. Cũng có trường hợp một người thật sự biết mình còn nhiều điều phải học và không hề tìm sự tán dương. Hai trạng thái ấy có thể dùng những câu nói giống nhau. Vì vậy, chỉ xét vẻ khiêm tốn bên ngoài chưa đủ để biết phẩm chất tâm đang có.

Khi mạn tùy miên còn, việc được công nhận hoặc bị xem nhẹ có thể làm cảm nhận về bản thân thay đổi rất nhanh. Nhưng không phải bất kỳ nỗi buồn nào trước sự thiếu công bằng cũng đều là mạn. Có lúc chúng ta cần được đối xử đúng, cần bảo vệ danh dự trước lời vu cáo hoặc cần trình bày công sức đã thực hiện. Điều phải nhìn là phần muốn dựng lên một địa vị cho tôi, rồi lấy địa vị ấy làm điều kiện quyết định sự an ổn của mình.

Sự tu tập đối với mạn đòi hỏi hơn việc cư xử hòa nhã. Người học cần quán sát năm uẩn theo sự sinh khởi, đổi khác và đoạn diệt của chúng. Một cảm thọ dễ chịu khi được tán thán chỉ là cảm thọ đang được kinh nghiệm. Sự nhớ lại một thành tựu thuộc về tưởng và những hoạt động tâm liên hệ. Những pháp ấy có thể được nhận biết đúng mà không cần quy tụ thành một chủ thể thường hằng phải được đề cao.

Chúng ta vẫn có thể sống ngay thẳng, nhận trách nhiệm và biết mình đang làm điều gì. Ngôn ngữ thông thường về tôi và của tôi không nhất thiết phải bị loại bỏ. Điều cần đoạn trừ là sự chấp giữ khiến cái tôi được cảm nhận như một thực tại đáng so đo và bảo vệ bằng mọi giá. Mạn tùy miên được nhận biết từ chiều sâu ấy, không chỉ từ những lời khoe khoang dễ thấy.

Hữu tham tùy miên: Khi tâm còn muốn một cách hiện hữu để nương vào#

Ngay cả lúc những khoái lạc quen thuộc không còn hấp dẫn, tâm vẫn có thể hướng tới một điều mình muốn trở thành. Có khi đó là mong được tồn tại trong một tình trạng thanh cao, vững chắc và không bị những biến động thông thường đụng tới. Sự mong cầu này có đối tượng khác với niềm vui giác quan. Nhưng nếu nó vẫn được nuôi bằng lòng đắm nhiễm đối với hiện hữu, người tu chưa ra khỏi phạm vi của hữu tham.

là khuynh hướng tham ái đối với sự hiện hữu, đối với việc tiếp tục có mặt trong những hình thức tồn tại được mong muốn. Trong giáo lý về các cõi và các tầng định, sự tham đắm còn có thể hướng tới những cảnh giới thanh cao hơn . Vì vậy, hữu tham không nên bị thu gọn thành ham muốn tiền bạc, tiện nghi hay sự hưởng thụ qua năm giác quan. Chính sự khác biệt này giúp chúng ta hiểu vì sao một tâm đã giảm nhiều dục nhiễm vẫn có thể còn những trói buộc tế hơn.

Cần giữ rõ rằng ý nguyện tiếp tục sống để chăm sóc gia đình, chữa bệnh hoặc thực hành Chánh pháp chưa đủ để kết luận hữu tham tùy miên đang hiện hành. Đời sống quy ước có những trách nhiệm cần được gìn giữ. Khi đau bệnh, việc chữa trị là hợp lý. Khi gặp nguy hiểm, tìm cách bảo toàn mạng sống là cần thiết. Giáo pháp không dùng sự đoạn trừ hữu tham để khuyên con người xem thường thân mạng hoặc bỏ trách nhiệm đối với người đang nương tựa mình.

Hữu tham trở thành điều cần được quán sát khi tâm chấp vào việc phải tiếp tục hiện hữu theo một cách nào đó như điều kiện căn bản cho an ổn. Có người tìm một hình ảnh bền chắc về mình trong các thành tựu đời thường. Có người từ bỏ nhiều thú vui nhưng lại say thích ý tưởng về một đời sống cao quý được kéo dài mãi. Những trường hợp ứng dụng ấy chỉ giúp mở hướng suy xét, chúng không thay thế nghĩa kinh điển của hữu tham đối với các hình thức hiện hữu trong vòng .

Trong tu tập định, một trạng thái yên tĩnh sâu có thể rất quý giá. Nó cho phép tâm thoát khỏi sự lôi kéo thô của các dục và hỗ trợ sự phát triển trí tuệ. Tuy nhiên, nếu sự an trú ấy trở thành điều được tham đắm và mong duy trì như một chỗ ở cuối cùng, việc tu tập vẫn còn phần phải được soi sáng. Đức Phật không dạy phủ nhận giá trị của định. Ngài chỉ rõ các cần được thấy đúng, kể cả những trạng thái rất thanh tịnh.

Điều tế nhị là người tu có thể không còn muốn những điều thường khiến mình tham trước kia. Từ đó, tâm dễ nghĩ sự đã hoàn tất. Nhưng sự vắng mặt của dục tham hiện hành không tự chứng minh hữu tham tùy miên đã bị đoạn tận. Hai khuynh hướng có đối tượng khác nhau. Sự thanh cao của một đối tượng không biến lòng đắm nhiễm đối với nó thành trí .

Khi thấy một trạng thái an lạc sinh khởi nhờ những điều kiện tu tập, chúng ta có thể biết nó đã được hình thành như thế nào. Sự có mặt ấy đáng được nhận rõ và sử dụng đúng. Nhưng nếu muốn nó phải vĩnh viễn còn nguyên, tâm đã đặt lên pháp hữu vi một yêu cầu vượt khỏi bản chất của nó. Sự quán sát về sinh khởi và đoạn diệt giúp người tu không lầm một thành tựu có điều kiện với sự chấm dứt của mọi chấp thủ.

Cũng không nên vội xem mọi ước nguyện hướng tới đời sống thiện lành là hữu tham bất thiện theo một nghĩa đơn giản. Mong tiếp tục học pháp và phát triển có thể là động lực chân chánh. Điều quan trọng là nhận ra khi ý nguyện biến thành sự nắm giữ một cái tôi phải tồn tại và thành tựu. Tâm còn muốn cái tôi ấy tiếp tục hưởng một trạng thái. Nhờ phân biệt như vậy, người tu không triệt tiêu động lực học đạo, nhưng học không biến kết quả thành đối tượng tham ái.

Hữu tham tùy miên chỉ ra một giới hạn rất sâu của việc tìm an ổn. Chúng ta có thể bớt phụ thuộc những niềm vui quen thuộc, nhưng vẫn muốn tìm một nơi tồn tại thật bền để nương tựa. Sự hiểu biết về các pháp do duyên sinh giúp tâm tiếp tục buông sự đòi hỏi ấy. Chính tại đây, việc quán sát tiến gần hơn tới câu hỏi vì sao ngay cả điều thanh cao cũng có thể trở thành chỗ cho lòng chấp giữ.

Vô minh tùy miên: Sự chưa thấy rõ khiến những khuynh hướng còn đường sinh khởi#

Một cảm thường đi qua mà ít để lại dấu ấn trong sự chú ý. Chúng ta không thấy vui rõ rệt, cũng không cảm nhận một nỗi đau nổi bật, nên dễ xem khoảng kinh nghiệm ấy là chẳng có gì cần biết. Nhưng sự thiếu chú ý đối với điều đang diễn ra có thể khiến chúng ta bỏ qua cách các pháp nương duyên sinh khởi. Trong phạm vi ấy, Đức Phật chỉ dạy một sự liên hệ sâu giữa bất khổ bất lạc thọ và .

Vô minh tùy miên là khuynh hướng chưa thấy biết đúng những sự thật cần được chứng ngộ. Nó không đơn giản là thiếu thông tin về một sự vật hay chưa học hết những lời giải thích. Kiến thức rộng vẫn chưa bảo đảm chúng ta thấy rõ khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến sự chấm dứt ấy. Sự thiếu thấy biết căn bản này khiến các pháp hữu vi còn có thể bị nhận lầm và bị nắm giữ.

Khi cảm thọ dễ chịu xuất hiện, vô minh có thể làm tâm không nhận rõ tính của cảm thọ, rồi tiếp tục nuôi dục tham. Khi gặp điều đau khổ, sự không thấy đúng có thể khiến tâm thêm chống đối. Đối với cảm thọ trung tính, thiếu và trí tuệ có thể làm sự không biết được duy trì. Nhưng không nên biến những quan hệ ấy thành một phép tính cứng nhắc rằng mỗi cảm thọ nhất định phải sinh một phiền não. Đức Phật đã chỉ rõ không phải mọi cảm thọ đều đi kèm tùy miên tương ứng.

Chúng ta cũng không nên tưởng vô minh là một thực thể bí mật đứng sau để điều khiển sáu tùy miên còn lại. Vô minh là pháp cần được nhận biết theo chức năng che lấp sự thật. Do không thấy đúng, tâm dễ chấp vào đối tượng đáng ưa và chống đối điều trái ý. Nó còn có thể giữ quan điểm sai, ngần ngại trước Chánh pháp, nuôi mạn và tham ái sự hiện hữu. Những khuynh hướng ấy có sự liên hệ, nhưng mỗi pháp vẫn có tính chất riêng cần được phân biệt khi quán sát.

Một điều cần được giữ vững là sự khác nhau giữa không biểu hiện, tạm thời chế ngự và đoạn tận. Sự im lặng trước một lời trái ý có thể do chánh niệm, cũng có thể do chưa muốn đáp trả. Việc không khởi dục trong một thời khóa có thể liên hệ tới định, nhưng chưa đủ xác định dục tham tùy miên đã chấm dứt. Người tu cần trân trọng những điều thiện thật sự được phát triển, đồng thời tiếp tục học thấy chúng trong phạm vi đúng của chúng.

Sự thực hành vì vậy phải đi từ những gì đang thật sự được kinh nghiệm. Khi một lạc thọ có mặt, chúng ta nhận biết lạc thọ, rồi xét xem tâm có tiếp tục muốn nắm giữ hay không. Khi khổ thọ xuất hiện, người tu chăm sóc điều cần chăm sóc và nhận ra nếu ác ý đang sinh. Khi tâm không rõ vui buồn, sự biết vẫn có thể được duy trì để thấy cảm thọ ấy sinh rồi diệt. Từng lần nhận biết đúng giúp chúng ta có thêm điều kiện không tiếp tục đi theo những sức nghiêng bất thiện quen thuộc.

Nhưng chỉ gọi tên được các trạng thái chưa đủ. Người tu cần hiểu những gì nuôi dưỡng chúng và những gì hỗ trợ sự đoạn trừ. Sự chú ý đặt sai chỗ có thể làm lòng tham hoặc sân mạnh lên. Việc giữ giới ngăn các hành động bất thiện được thực hiện. Sự an trú giúp tâm có điều kiện quan sát rõ hơn, còn trí tuệ thấy các pháp theo những đặc tính thật sự của chúng. Những phương diện ấy liên hệ với nhau trong pháp hành, nhưng không phải một công thức để chúng ta tuyên bố đã đoạn tận tùy miên sau vài lần thực hiện.

Đức Phật dạy rằng bảy tùy miên cần được đoạn trừ tận gốc. Điều ấy nói đến sự chấm dứt khả năng trói buộc tiếp tục sinh khởi, không chỉ là một thời gian tâm được bình ổn. Sự đoạn tận ấy đòi toàn bộ con đường được tu tập và trí tuệ được viên mãn. Vì vậy, vài phản ứng ngoài đời không đủ cho phép chúng ta kết luận về của người khác. Sự yên lặng của chính mình cũng chưa phải bằng chứng chắc chắn về chứng ngộ.

Một điều chưa khởi lên có thể vẫn còn điều kiện để khởi lên. Biết vậy, chúng ta không cần lo sợ mỗi lần tâm được yên, cũng không cần thất vọng khi nhận ra một khuynh hướng cũ. Điều thiết thực là thấy đúng điều đang có mặt, hiểu cách nó được nuôi dưỡng và thực hành những nhân duyên chân chánh để nó suy yếu. Sự an ổn khi ấy không còn bị hiểu lầm thành một lời bảo đảm. Nó trở thành cơ hội để chúng ta quan sát sâu hơn, cho đến khi điều cần đoạn trừ được đoạn trừ bằng trí tuệ thật sự.