Phụ lục

Thuật ngữ đối chiếu

Bảng thuật ngữ gồm 422 mục tra cứu, chia theo 20 nhóm chủ đề. Mỗi mục ghi tên thuật ngữ, Pāli hoặc tên đối chiếu và phần giải nghĩa trong phạm vi tác phẩm. Những tên gọi đồng nghĩa được dẫn về mục chính; các nghĩa khác nhau của cùng một từ được phân biệt khi cần.

Cách sử dụng. Cột Pāli là thuật ngữ hoặc từ đối chiếu theo phạm vi sử dụng, không mặc định mọi cách dịch Việt tương đương tuyệt đối. Dấu “—” được dùng khi không có một từ Pāli riêng phù hợp. Các chỉ dẫn “đối chiếu” và “thuật ngữ hệ thống” báo rằng đó là phép đối chiếu hoặc cách gọi tổng hợp, không phải lúc nào cũng là nguyên văn một công thức của kinh Nikāya.

Ranh giới giáo lý. Bảng phân biệt chủ ý tạo nghiệp với tác ý; năm uẩn với năm thủ uẩn; tập khí thông thường với tùy miên; triền cái với kiết sử; sự tạm vắng phiền não với sự đoạn tận; Niết-bàn với các pháp hữu vi. Các mục cần lưu ý được rà theo nguồn kinh ở cuối tài liệu.

01Khái niệm nền tảng

Buông lung, phóng dật

pamāda

Thiếu tỉnh thức, để tâm trôi theo thói quen bất thiện.

Chánh pháp

saddhamma

Giáo pháp chân chính đưa đến ly tham và giải thoát.

Duyên

paccaya

Điều kiện nâng đỡ một pháp sinh khởi hoặc tồn tại.

Duyên khởi

paṭiccasamuppāda

Sự sinh khởi có điều kiện; trong trọng tâm giáo pháp, chỉ tiến trình tập khởi và đoạn diệt toàn bộ khổ uẩn.

Giải thoát

vimutti

Tự do khỏi tham, sân, si và sự trói buộc của chấp thủ.

Minh

vijjā

Cái biết đúng về khổ, nguyên nhân, sự chấm dứt và con đường.

Nhân

hetu

Nguyên nhân có sức làm phát sinh một kết quả.

Nhân duyên

hetu-paccaya

Toàn bộ nguyên nhân và điều kiện cùng nâng đỡ một pháp.

Pháp

dhamma

Hiện tượng, lời dạy hoặc nguyên tắc, tùy văn cảnh.

Pháp hữu vi

saṅkhata dhamma

Pháp do điều kiện tạo thành, có sự sinh khởi và hoại diệt; không áp dụng mô tả này cho Niết-bàn vô vi.

Phiền não

kilesa

Những cấu uế của tâm như tham, sân, si.

Quả

phala; vipāka

Phala là kết quả/quả chứng tùy ngữ cảnh; vipāka nhấn mạnh quả chín của nghiệp.

Sinh diệt

udayabbaya

Sự sinh lên và mất đi của các pháp hữu vi.

Tập khí

— (cách gọi mô tả)

Thói quen, khuynh hướng được củng cố do lặp lại; không mặc nhiên đồng nghĩa với bảy tùy miên (anusaya).

Tham

lobha; rāga

Dính mắc, ham muốn và tìm cách chiếm giữ.

Sân

dosa; byāpāda

Chống đối, ác ý hoặc muốn loại trừ điều trái ý.

Thiện pháp

kusala dhamma

Pháp làm suy yếu tham, sân, si và hỗ trợ giải thoát.

Tỉnh thức

appamāda; sati-sampajañña

Sống không phóng dật, có niệm và biết rõ điều đang diễn ra.

Bi

karuṇā

Tâm muốn khổ của chúng sinh được vơi bớt.

Tu tập

bhāvanā

Làm cho một phẩm chất thiện sinh trưởng và được hoàn thiện.

Vô minh

avijjā

Không biết đúng Tứ Thánh Đế và tiến trình Duyên khởi.

Pháp vô vi

asaṅkhata

Pháp không do điều kiện tạo tác; trong sách chỉ Niết-bàn, không đồng nhất với pháp hữu vi đang sinh diệt.

Tri kiến như thật

yathābhūtañāṇadassana

Trí biết và thấy đúng sự thật, không chỉ là suy luận hoặc kiến thức khái niệm.

Nhàm chán do trí tuệ

nibbidā

Sự không còn say đắm các pháp hữu vi do thấy đúng, khác với chán nản hoặc ghét bỏ đời sống.

Tri kiến giải thoát

vimuttiñāṇadassana

Cái biết rõ sự giải thoát đã được chứng nghiệm; không đồng nghĩa tự suy đoán mình chứng đắc.

Chánh pháp hiện thấy

sandiṭṭhika dhamma

Pháp có thể được nhận biết nơi kinh nghiệm tu tập hiện tại; không phải lời hứa mọi đau đớn thân sẽ biến mất.

Pháp hành

paṭipatti

Sự thực hành lời dạy trong giới, định, tuệ và những bổn phận thích hợp; khác với chỉ hiểu lý thuyết.

Ba độc

lobha, dosa, moha

Ba gốc bất thiện là tham, sân, si; gọi là “độc” vì làm ô nhiễm tâm và nuôi dưỡng khổ.

Chánh trí (trong quán niệm)

ñāṇa (theo văn cảnh)

Cái biết đúng nâng đỡ việc quán sát thân, thọ, tâm, pháp; không đồng nhất mọi kinh nghiệm biết rõ với trí chứng quả.

Tuệ giác

paññā; ñāṇa (tùy ngữ cảnh)

Trí tuệ nhận ra bản chất các pháp và hướng đến đoạn trừ vô minh; từ diễn đạt rộng, cần đọc cùng văn cảnh.

Tuệ tri

pajānāti (động từ)

Biết rõ đối tượng đúng như thực trong lúc quan sát; tùy ngữ cảnh có độ sâu khác nhau, không mặc nhiên là chứng đắc Thánh quả.

02Vô thường, khổ, vô ngã

Vô thường

anicca

Sinh diệt, biến đổi, không bền chắc.

Khổ

dukkha

Đau đớn, khổ não và tính bất toại nguyện của các pháp hữu vi, nhất là năm thủ uẩn.

Vô ngã

anattā

Các uẩn và pháp không thích hợp để chấp là một tự ngã thường hằng, độc lập và hoàn toàn làm chủ.

Chấp ngã, ngã chấp

attaggāha; sakkāyadiṭṭhi

Nắm thân tâm là tôi hoặc của tôi; khi thành kiến chấp gọi là thân kiến.

Tự ngã, linh hồn bất biến

attā; jīva

Quan niệm về một chủ thể thường hằng đứng ngoài Duyên khởi; sách bác bỏ sự đồng nhất này.

Thường kiến, đoạn kiến

sassatadiṭṭhi; ucchedadiṭṭhi

Hai cực đoan: tin tự ngã còn mãi hoặc bị tiêu diệt hoàn toàn khi chết.

Ba loại khổ

tisso dukkhatā

Khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.

Xuất hiện 3 lần trong 1 chương

Ch. 4 (3)

Khổ khổ

dukkha-dukkhatā

Khổ trực tiếp do đau thân, đau tâm, mất mát và nghịch cảnh.

Xuất hiện 1 lần trong 1 chương

Ch. 4 (1)

Hoại khổ

vipariṇāma-dukkhatā

Khổ do điều dễ chịu biến đổi hoặc chấm dứt.

Xuất hiện 2 lần trong 1 chương

Ch. 4 (2)

Hành khổ

saṅkhāra-dukkhatā

Tính bất toại nguyện của các pháp hữu vi vì lệ thuộc điều kiện, không thể làm chỗ nương an ổn tuyệt đối.

Sinh

jāti

Sự sinh của hữu tình trong các loại hiện hữu; biểu hiện qua sự xuất hiện các uẩn và thành tựu các căn.

Già

jarā

Sự lão hóa và suy giảm của thân tâm hữu vi.

Chết

maraṇa

Sự chấm dứt mạng sống của một đời.

Sầu, bi, khổ, ưu, não

soka, parideva, dukkha, domanassa, upāyāsa

Sầu muộn, than khóc, đau thân, khổ tâm và tuyệt vọng.

Gặp điều không ưa

appiyehi sampayoga

Phải hội ngộ hoặc sống cùng điều trái ý.

Xa điều thương

piyehi vippayoga

Phải chia lìa người hoặc điều mình quý.

Mong cầu không thành

yampicchaṃ na labhati

Không đạt được điều tâm mong muốn.

Ngã kiến

attadiṭṭhi (tùy ngữ cảnh)

Quan niệm chấp có tự ngã thật; khi chấp năm uẩn là tự ngã cần đối chiếu thêm mục “Thân kiến”.

03Thánh đạo và các pháp hỗ trợ

Chánh kiến

sammādiṭṭhi

Thấy đúng nghiệp, Tứ Thánh Đế và Duyên khởi.

Chánh niệm

sammāsati

Quán thân, thọ, tâm và pháp với nhiệt tâm, tỉnh giác và niệm.

Đắm dục lạc

kāmasukhallikānuyoga

Theo đuổi khoái lạc giác quan như cứu cánh.

Ép xác khổ hạnh

attakilamathānuyoga

Làm khổ thân như thể tự hành hạ có thể đem giải thoát.

Ba loại Chánh tư duy

tayo sammāsaṅkappā

Tư duy ly dục, vô sân và bất hại.

Xuất hiện 3 lần trong 1 chương

Ch. 7 (3)

Tư duy ly dục

nekkhammasaṅkappa

Hướng tâm ra khỏi sự lệ thuộc vào dục và chiếm hữu.

Xuất hiện 2 lần trong 1 chương

Ch. 7 (2)

Tư duy vô sân

abyāpādasaṅkappa

Hướng tâm không ác ý, không nuôi chống đối.

Xuất hiện 2 lần trong 1 chương

Ch. 7 (2)

Tư duy bất hại

avihiṃsāsaṅkappa

Hướng tâm không làm tổn hại chúng sinh.

Xuất hiện 3 lần trong 1 chương

Ch. 7 (3)

Bốn loại tà ngữ

cattāri vacīduccaritāni

Nói dối, nói chia rẽ, nói thô ác và nói phù phiếm.

Xuất hiện 5 lần trong 1 chương

Ch. 8 (5)

Nói chia rẽ

pisuṇā vācā

Lời làm người hòa hợp trở nên bất hòa.

Nói thô ác

pharusā vācā

Lời cay nghiệt, xúc phạm hoặc gây tổn thương.

Xuất hiện 5 lần trong 1 chương

Ch. 8 (5)

Nói phù phiếm

samphappalāpa

Lời vô ích làm tăng tán loạn và buông lung.

Xuất hiện 3 lần trong 1 chương

Ch. 8 (3)

Lời chân thật, hòa hợp, ôn hòa, lợi ích

saccavācā; samaggakaraṇī; saṇhā; atthasaṃhitā vācā

Bốn phẩm chất tích cực của lời nói được nhấn mạnh trong sách.

Ba thân nghiệp bất thiện

tīṇi kāyaduccaritāni

Sát sinh, lấy của không cho và tà hạnh trong các dục.

Xuất hiện 2 lần trong 1 chương

Ch. 9 (2)

Ba thân nghiệp thiện

tīṇi kāyasucaritāni

Từ bỏ sát sinh, lấy của không cho và tà hạnh; tôn trọng sự sống, tài sản, quan hệ.

Xuất hiện 2 lần trong 1 chương

Ch. 9 (2)

Ba nghiệp thân, khẩu, ý

kāyakamma, vacīkamma, manokamma

Hành động có chủ ý được biểu hiện qua thân, lời nói và tâm ý.

Năm nghề nên tránh

pañca vaṇijjā

Buôn bán vũ khí, chúng sinh, thịt, chất say và chất độc.

Buôn bán vũ khí

satthavaṇijjā

Lấy việc cung cấp phương tiện sát hại làm sinh kế.

Buôn bán chúng sinh

sattavaṇijjā

Mua bán con người hoặc hữu tình như hàng hóa.

Buôn bán thịt

maṃsavaṇijjā

Sinh kế dựa trên việc mua bán thịt và chuỗi sát hại.

Buôn bán chất say

majjavaṇijjā

Kinh doanh thứ gây say, nghiện và suy giảm tỉnh thức.

Buôn bán chất độc

visavaṇijjā

Kinh doanh độc chất nhằm gây tổn hại sự sống.

Ngăn bất thiện chưa sinh

saṃvarappadhāna

Không tạo điều kiện cho pháp bất thiện chưa có sinh lên.

Đoạn bất thiện đã sinh

pahānappadhāna

Buông bỏ pháp bất thiện đang có, không tiếp tục nuôi nó.

Làm thiện chưa sinh được sinh

bhāvanāppadhāna

Tạo điều kiện cho phẩm chất thiện chưa có phát sinh.

Giữ và phát triển thiện đã sinh

anurakkhaṇāppadhāna

Duy trì, làm lớn và hoàn thiện pháp thiện đã có.

Quán pháp

dhammānupassanā

Quan sát các nhóm pháp và quy luật đang vận hành trong thân tâm.

Bốn oai nghi

cattāro iriyāpathā

Đi, đứng, ngồi, nằm được nhận biết rõ trong quán thân.

Sân hận

byāpāda

Ác ý, sự muốn chống đối hoặc làm hại; một triền cái trong tu định.

Hôn trầm, thụy miên

thīnamiddha

Tâm trì trệ đi cùng sự nặng nề, buồn ngủ.

Trạo cử, hối quá

uddhaccakukkucca

Tâm dao động đi cùng bứt rứt, hối tiếc.

Nghi

vicikicchā

Do dự nghi ngờ làm tâm không thể dấn bước và an trú.

Bốn tầng Thiền

cattāri jhānāni

Bốn mức an định từ ly dục đến xả niệm thanh tịnh.

Sơ Thiền

paṭhama-jhāna

Ly dục, ly bất thiện pháp; có tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm.

Nhị Thiền

dutiya-jhāna

Tầm tứ lắng; hỷ, lạc và nhất tâm do định sinh.

Tam Thiền

tatiya-jhāna

Hỷ lắng; an trú với xả, niệm và lạc.

Tứ Thiền

catuttha-jhāna

Vượt khổ lạc; xả và niệm được thanh tịnh.

Xả niệm thanh tịnh

upekkhāsatipārisuddhi

Sự trong sạch của xả và niệm ở Tứ Thiền.

Niệm giác chi

satisambojjhaṅga

Niệm như một yếu tố giác ngộ.

Trạch pháp giác chi

dhammavicayasambojjhaṅga

Khảo sát và phân biệt pháp bằng trí tuệ.

Tinh tấn giác chi

vīriyasambojjhaṅga

Năng lực bền bỉ nuôi pháp thiện.

Khinh an giác chi

passaddhisambojjhaṅga

Sự lắng dịu của thân và tâm.

Định giác chi

samādhisambojjhaṅga

Tâm vững và thống nhất.

Xả giác chi

upekkhāsambojjhaṅga

Tâm quân bình trước các pháp.

Quán, tuệ quán

vipassanā

Thấy sâu vô thường, khổ, vô ngã và Duyên khởi.

Giới, Định, Tuệ

sīla, samādhi, paññā

Ba phương diện nâng đỡ nhau của con đường tu tập.

Giới

sīla

Phòng hộ thân khẩu, không tạo nhân gây hại.

Niệm hơi thở

ānāpānassati

Pháp thực hành tỉnh giác khi thở vào, thở ra; MN 118 trình bày mười sáu bước tu tập và mối liên hệ với bốn niệm xứ, bảy giác chi.

Quán bất tịnh

asubha-bhāvanā

Quán sát những đặc tính không đáng tham đắm của thân để điều phục dục tham; không phải nuôi ghê tởm hoặc phủ nhận giá trị thân thể.

Quán niệm hơi thở

ānāpānassati

Tên gọi khác của niệm hơi thở; xem mục “Niệm hơi thở”.

Quán tử thi

sīvathikā-manasikāra; asubha

Quán các giai đoạn hoại diệt của thân xác để thấy thân vô thường, không đáng chấp là tự ngã.

Thiền chi

jhānaṅga

Những yếu tố đặc trưng của các tầng thiền, như tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm trong mô tả Sơ thiền; phải xét theo tầng thiền tương ứng.

Thiền chỉ

samatha

Cách gọi quen thuộc của pháp tu làm tâm lắng dịu và định tĩnh; xem thêm mục “Chỉ”.

Thiền quán

vipassanā

Cách gọi quen thuộc của tuệ quán để thấy đúng vô thường, khổ, vô ngã; xem thêm mục “Quán, tuệ quán”.

Thân hành trong quán hơi thở

kāyasaṅkhāra

Trong các bài kinh quán hơi thở, hơi thở vào và hơi thở ra được gọi là thân hành; khác với “thân nghiệp” là hành động có chủ ý bằng thân.

04Tứ Thánh Đế và bốn phận sự

Đoạn tận

pahāna; pahātabba

Từ bỏ nguồn sinh khổ; phận sự đối với Tập Đế.

Chứng ngộ

sacchikiriyā; sacchikātabba

Trực tiếp thể nghiệm Diệt Đế.

Tu tập con đường

bhāvanā; bhāvetabba

Làm Bát Chánh Đạo sinh trưởng và viên mãn.

05Mười hai nhân duyên

Hành trong Duyên khởi

saṅkhārā

Các tạo tác nghiệp do vô minh làm duyên.

Thức trong Duyên khởi

viññāṇa

Thức sinh khởi nương điều kiện trong tiến trình duyên sinh; không phải linh hồn hoặc một “dòng thức” bất biến.

Thọ

vedanā

Vị dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính sinh từ xúc.

Ái

taṇhā

Cơn khát đối với dục, hiện hữu hoặc không hiện hữu.

Thủ

upādāna

Sự nắm giữ mạnh hơn ái, biến đối tượng thành chỗ bám.

Hữu

bhava

Sự hiện hữu/trở thành làm duyên cho sinh; kinh nêu dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.

Nghiệp

kamma

Hành động có chủ ý qua thân, lời và ý.

Tư hay chủ ý

cetanā

Sự cố ý hướng dẫn hành động qua thân, lời nói và ý.

Tác ý

manasikāra

Đưa tâm đến đối tượng. Cần phân biệt với tư hay chủ ý.

Ba loại hữu

tayo bhavā

Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu; ba phạm vi hiện hữu trong chi phần hữu của Duyên khởi.

Dục hữu

kāmabhava

Sự hiện hữu thuộc phạm vi dục; không đồng nhất với một cảm giác ham muốn thoáng qua.

Sắc hữu

rūpabhava

Sự hiện hữu thuộc phạm vi sắc, được phân biệt với dục hữu và vô sắc hữu.

Vô sắc hữu

arūpabhava

Sự hiện hữu thuộc phạm vi vô sắc; vẫn thuộc hữu và chưa phải giải thoát.

Sắc giới

rūpadhātu; rūpaloka

Phạm vi hiện hữu tương ứng với các tầng thiền sắc giới.

Vô sắc giới

arūpadhātu; arūpaloka

Phạm vi hiện hữu tương ứng các tầng thiền vô sắc, vẫn còn thuộc sinh tử.

Khổ uẩn

dukkhakkhandha

Toàn bộ khối khổ được nêu trong công thức tập khởi và đoạn diệt Duyên khởi.

Sáu nội ngoại xứ

cha ajjhattikāni ca bāhirāni āyatanāni

Sáu căn và sáu cảnh tương ứng, nơi xúc, thọ và các trói buộc có thể phát sinh.

Danh (trong danh sắc)

nāma

Trong SN 12.2, danh gồm thọ, tưởng, tư, xúc và tác ý; không phải tên gọi hay một linh hồn vô hình.

Sắc (trong danh sắc)

rūpa

Trong SN 12.2, sắc gồm bốn đại và sắc do bốn đại tạo; là mặt vật chất, không tự tồn độc lập.

Dòng thức (cách nói quy ước)

—

Chỉ sự tiếp nối có điều kiện của các kinh nghiệm thức khi nói một cách quy ước; tuyệt đối không phải một thực thể biết thường hằng luân chuyển giữa các đời.

06Năm uẩn, bốn đại và cảm thọ

Sắc uẩn

rūpakkhandha

Uẩn vật chất, gồm bốn đại và sắc phát sinh nương bốn đại; không chỉ một thân thể cá nhân.

Thọ uẩn

vedanākkhandha

Toàn bộ cảm thọ dễ chịu, khó chịu và trung tính.

Tưởng uẩn

saññākkhandha

Khả năng nhận dấu, nhận ra và ghi nhận đặc điểm.

Tứ đại, bốn đại

cattāri mahābhūtāni

Bốn đại đất, nước, lửa và gió, tức những tính chất vật chất được quán sát trong thân và ngoài thân.

Đất đại

pathavīdhātu

Tính cứng, mềm và sức nâng đỡ của sắc.

Nước đại

āpodhātu

Tính kết dính và liên kết của sắc.

Lửa đại

tejodhātu

Nhiệt độ, sức nóng lạnh và sự làm chín.

Gió đại

vāyodhātu

Chuyển động, co giãn và sức đẩy.

Nội đại, ngoại đại

ajjhattikā dhātu; bāhirā dhātu

Cùng một loại đại được xét trong thân hoặc ngoài thân.

Ba cảm thọ

tisso vedanā

Ba loại cảm thọ: lạc, khổ và không khổ không lạc; xem các mục cảm thọ tương ứng.

Sắc pháp

rūpa; rūpadhamma (tùy ngữ cảnh)

Những hiện tượng thuộc mặt vật chất; cần phân biệt với sắc cảnh riêng của mắt và sắc uẩn theo văn cảnh.

Thọ không khổ không lạc

adukkhamasukhā vedanā

Tên gọi khác của thọ trung tính; không đồng nghĩa với vô cảm hoặc đã đoạn tận tham, sân, si.

07Sáu căn, sáu cảnh, sáu thức, xúc

Sáu căn, sáu nội xứ

cha ajjhattikāni āyatanāni

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.

Nhãn căn, mắt

cakkhu; cakkhāyatana

Nền vật chất cho kinh nghiệm thấy.

Nhĩ căn, tai

sota; sotāyatana

Nền vật chất cho kinh nghiệm nghe.

Tỷ căn, mũi

ghāna; ghānāyatana

Nền vật chất cho kinh nghiệm ngửi.

Thiệt căn, lưỡi

jivhā; jivhāyatana

Nền vật chất cho kinh nghiệm nếm.

Sáu trần, sáu ngoại xứ

cha bāhirāni āyatanāni

Sắc, thanh, hương, vị, xúc chạm và pháp.

Âm thanh

sadda

Đối tượng của tai.

Tỷ thức

ghānaviññāṇa

Nhận biết mùi nương mũi và hương.

Thiệt thức

jivhāviññāṇa

Nhận biết vị nương lưỡi và vị.

Sáu xúc

cha phassakāyā

Sáu loại cuộc gặp tương ứng với sáu cửa nhận biết.

Nhãn xúc

cakkhusamphassa

Sự gặp nhau của mắt, hình sắc và nhãn thức.

Nhĩ xúc

sotasamphassa

Sự gặp nhau của tai, âm thanh và nhĩ thức.

Tỷ xúc

ghānasamphassa

Sự gặp nhau của mũi, hương và tỷ thức.

Thiệt xúc

jivhāsamphassa

Sự gặp nhau của lưỡi, vị và thiệt thức.

Ý xúc

manosamphassa

Sự gặp nhau của ý căn, pháp trần và ý thức.

08Thọ, ái và thủ

Thọ duyên ái

vedanāpaccayā taṇhā

Do thọ làm duyên, ái có thể sinh khi vô minh còn chi phối.

Ba loại ái

tisso taṇhā

Dục ái, hữu ái và phi hữu ái.

Phi hữu ái

vibhavataṇhā

Khát cầu không hiện hữu hoặc mong sự hiện hữu bị chấm dứt; không đồng nhất với mọi phản ứng muốn loại bỏ điều khó chịu.

Ý muốn thiện, khác ái

chanda

Ý muốn có chức năng, được trí tuệ điều chỉnh, không nhất thiết là tham ái.

Bốn loại thủ

cattāri upādānāni

Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và ngã luận thủ.

Dục thủ

kāmupādāna

Bám chặt đối tượng dục như nơi bảo đảm thỏa mãn.

Ngã luận thủ

attavādupādāna

Bám quan niệm về tự ngã và lấy các uẩn làm tôi hoặc của tôi.

Ly tham

virāga

Sự phai nhạt và chấm dứt sức kéo của tham ái.

Từ bỏ, xả ly, buông xả

cāga; paṭinissagga; vossagga

Mở bàn tay nắm giữ; trả pháp về đúng tính duyên sinh của nó.

09Nghiệp, giới và đạo đức

Thiện nghiệp

kusala kamma

Hành động có chủ ý được thúc đẩy bởi những căn thiện và đưa đến kết quả tương ứng.

Bất thiện nghiệp

akusala kamma

Hành động có chủ ý phát sinh từ tham, sân, si và đưa đến hậu quả bất thiện.

Ba bất thiện ý nghiệp

tīṇi manoduccaritāni

Ba loại hành vi ý bất thiện: tham cầu tài vật của người, hại ý và tà kiến; được phân biệt với ý nghĩ thoáng qua thiếu chủ ý nuôi dưỡng.

Tham cầu của người

abhijjhā

Muốn chiếm đoạt điều thuộc về người khác; khác với mong muốn chính đáng được nuôi bằng sự tôn trọng.

Hại ý

byāpāda

Ước muốn làm hại hoặc khiến người khác chịu bất hạnh; là một bất thiện ý nghiệp.

Vô tham

alobha

Không nắm giữ, chiếm đoạt; trong nhóm căn thiện được nói qua sự vắng tham chứ không chỉ vì chưa có đối tượng hấp dẫn.

Vô sân

adosa

Không ác ý và chống đối; một căn thiện, không có nghĩa mất khả năng ngăn điều gây hại.

Xuất hiện 3 lần trong 1 chương

Ch. 7 (3)

Vô si

amoha

Không mê mờ, có cái thấy đúng; một căn thiện, không phải chỉ có nhiều kiến thức.

Ba căn bất thiện

akusalamūlāni

Tham, sân, si; các gốc thúc đẩy nhiều trạng thái và hành động bất thiện.

Ba căn thiện

kusalamūlāni

Vô tham, vô sân, vô si; nền cho hành động thiện và sự tu tập.

Năm giới

pañca sīlāni

Năm điều học của người cư sĩ: không sát sinh, không lấy của không cho, không tà hạnh, không nói dối, không dùng chất say gây phóng dật.

Giới tránh chất say

surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇī

Điều học thứ năm: tránh các thức uống và chất gây say, là nền tảng cho phóng dật; không giản lược thành chỉ tránh say quá mức.

Tàm

hiri

Biết hổ thẹn trước điều bất thiện do lòng tự trọng đạo đức, khác với tự khinh miệt.

Quý

ottappa

Biết e sợ hậu quả và sự nguy hại của hành vi bất thiện, giúp phòng hộ hành động.

Tàm và quý

hiri-ottappa

Hai phẩm chất gìn giữ đạo đức: hổ thẹn điều sai và e sợ điều bất thiện.

Không hối tiếc

avippaṭisāra

Tình trạng không day dứt vì hành vi bất thiện; thường được trình bày như điều kiện hỗ trợ an tịnh và định.

Giữ giới thanh tịnh

sīlavisuddhi (đối chiếu)

Giữ gìn hành vi thân và lời phù hợp giới học; không đồng nhất giới hạnh với cứu cánh giải thoát.

Tướng chung, tướng riêng

nimitta; anubyañjana

Dấu hiệu tổng quát và chi tiết nơi đối tượng có thể bị tâm nắm giữ, khiến tham hay sân sinh khởi; Chương 45 chỉ dạy cách không nắm giữ.

Ba nghiệp

kāyakamma, vacīkamma, manokamma

Ba cửa biểu hiện nghiệp do chủ ý: thân, lời nói và ý; xem từng mục thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.

Thọ trì

samādiyati; samādāna (tùy ngữ cảnh)

Tự nguyện nhận lãnh và gìn giữ điều học hay pháp thực hành; hiệu quả không chỉ do việc đọc lời phát nguyện.

Tại gia

gahaṭṭha; agāriya

Người sống đời gia đình, có trách nhiệm và sinh kế thế tục; vẫn có thể thực hành Chánh pháp.

Ý nghiệp

manokamma

Nghiệp được tạo bởi chủ ý thuộc ý, không nên đồng nhất mọi ý nghĩ thoáng qua với nghiệp cùng mức độ.

10Bốn thức ăn

Bốn thức ăn

cattāro āhārā

Bốn loại thức ăn duy trì sự tồn tại: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực.

Đoàn thực

kabaḷīkārāhāra

Thức ăn vật chất được dùng để nuôi thân, không đồng nhất với toàn bộ bốn thức ăn.

Xúc thực

phassāhāra

Xúc được xem như thức ăn, điều kiện nuôi dưỡng kinh nghiệm và sự tiếp nối của hữu tình.

Tư niệm thực

manosañcetanāhāra

Chủ ý của tâm được nói đến như thức ăn; không phải một kho nghiệp hay thực thể tự tồn.

Thức thực

viññāṇāhāra

Thức trong vai trò thức ăn duy trì sự tiếp nối có điều kiện; không phải linh hồn di chuyển giữa các đời.

Bốn loại thức ăn

cattāro āhārā

Tên gọi khác của “Bốn thức ăn”: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực.

11Tứ như ý túc, ngũ căn và ngũ lực

Tứ như ý túc

cattāro iddhipādā

Bốn nền tảng thành tựu định: dục, tinh tấn, tâm và thẩm sát; không có nghĩa muốn gì cũng được.

Dục như ý túc

chanda-iddhipāda

Nền tảng định nương ý muốn tu tập chân chánh, cùng tinh cần và các tạo tác nỗ lực.

Tinh tấn như ý túc

vīriya-iddhipāda

Nền tảng định nương sức nỗ lực bền bỉ, đi cùng sự an trú và điều chỉnh đúng.

Tâm như ý túc

citta-iddhipāda

Nền tảng định nương sự chuyên tâm, không để pháp hành bị kéo đi bởi đối tượng khác.

Quán như ý túc

vīmaṃsā-iddhipāda

Nền tảng định nương thẩm sát, khảo sát đúng pháp hành và điều kiện hỗ trợ.

Như ý túc

iddhipāda

Cơ sở hay nền tảng của sự thành tựu; trong mạch tu tập chỉ bốn cơ sở tu định.

Ngũ căn

pañcindriyāni

Năm năng lực chủ đạo cần phát triển: tín, tấn, niệm, định và tuệ.

Tín căn

saddhindriya

Đức tin hướng đến sự giác ngộ của Như Lai và có chức năng dẫn đường tu học.

Tấn căn

vīriyindriya

Năng lực tinh tấn ngăn bất thiện và phát triển thiện pháp.

Niệm căn

satindriya

Năng lực ghi nhớ và giữ chánh niệm, không quên pháp cần thực hành.

Định căn

samādhindriya

Năng lực an trú, làm tâm vững vàng trên đối tượng thích hợp.

Tuệ căn

paññindriya

Năng lực hiểu biết sinh diệt và hướng đến sự đoạn tận khổ.

Ngũ lực

pañca balāni

Năm sức mạnh tín, tấn, niệm, định và tuệ khi không dễ bị các pháp đối nghịch chi phối.

Tín lực

saddhābala

Đức tin đã thành sức mạnh chống lại sự dao động trước điều đáng tin cậy.

Tấn lực

vīriyabala

Sức tinh tấn không dễ bị lười nhác và buông xuôi làm gián đoạn.

Niệm lực

satibala

Sức chánh niệm không dễ bị thất niệm lấn át.

Tuệ lực

paññābala

Sức trí tuệ không dễ bị vô minh và tà kiến chi phối.

Tinh tấn

vīriya

Nỗ lực đúng đắn, bền bỉ trong ngăn bất thiện và phát triển thiện pháp.

Niệm

sati

Khả năng ghi nhớ, hiện diện và nhận biết đúng pháp hành; cần được soi sáng bởi chánh kiến.

Ba mươi bảy phẩm trợ đạo

sattatiṃsa bodhipakkhiyā dhammā

Hệ thống bảy nhóm pháp: bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và Bát Chánh Đạo. Bản sách giảng các nhóm này, dù không dùng thường xuyên nhãn tổng hợp.

12Lậu hoặc và căn thiện, bất thiện

Ba lậu hoặc

tayo āsavā

Dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu; một số bản liệt kê còn tách thêm kiến lậu.

Dục lậu

kāmāsava

Lậu hoặc liên hệ sự đắm nhiễm dục lạc và sự tìm kiếm khoái cảm.

Hữu lậu (lậu về hữu)

bhavāsava

Một loại lậu hoặc liên hệ sự khát muốn hiện hữu và trở thành; phân biệt với hữu lậu (sāsava), tính chất còn liên hệ lậu hoặc.

Vô minh lậu

avijjāsava

Sự không thấy đúng Tứ Thánh Đế và Duyên khởi trong phạm vi các lậu hoặc.

Bảy phương pháp đoạn trừ lậu hoặc

satta āsavapahānā (diễn nghĩa)

Bảy cách trong MN 2: bằng thấy biết, phòng hộ, thọ dụng đúng, kham nhẫn, tránh né, xua bỏ và tu tập.

Thọ dụng

paṭisevanā

Sử dụng y phục, thức ăn, nơi ở và vật dụng cần thiết đúng mục đích để không nuôi lậu hoặc.

Kham nhẫn

adhivāsanā

Chịu đựng thích đáng nóng lạnh, đói khát và điều khó chịu mà không nuôi bất thiện.

Trừ diệt

vinodanā

Gạt bỏ, không tiếp tục dung dưỡng các tư duy bất thiện đã khởi lên.

Hữu lậu (tính chất)

sāsava

Tính chất còn liên hệ với lậu hoặc; trong MN 117, chánh kiến hữu lậu được phân biệt với chánh kiến vô lậu. Không phải “hữu lậu” là tên của một loại lậu hoặc.

Vô lậu

anāsava

Không còn liên hệ với lậu hoặc; dùng khi phân biệt pháp, đạo chi hữu lậu và vô lậu tùy ngữ cảnh.

Xuất hiện 1 lần trong 1 chương

Ch. 6 (1)

13Mười kiết sử

Mười kiết sử

dasa saṃyojanāni

Mười dây trói buộc được đoạn dần qua các Thánh quả; chia năm hạ phần và năm thượng phần.

Năm hạ phần kiết sử

pañcorambhāgiyāni saṃyojanāni

Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân; đoạn tận trước quả Bất lai.

Năm thượng phần kiết sử

pañcuddhambhāgiyāni saṃyojanāni

Sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử và vô minh; đoạn tận khi chứng A-la-hán.

Dục tham kiết sử

kāmarāga

Sự tham luyến dục lạc trói buộc trong dục giới; khác về vị trí pháp số với dục tham triền cái.

Sân kiết sử

paṭigha; byāpāda (tùy kinh)

Sự chống đối, ác ý trói buộc; là một trong năm hạ phần kiết sử.

Sắc ái

rūparāga

Tham ái đối với hiện hữu sắc giới, vẫn là kiết sử dù vượt dục tham thô.

Vô sắc ái

arūparāga

Tham ái đối với hiện hữu vô sắc giới; chưa phải đoạn tận tham ái.

Mạn

māna

Ý niệm so sánh tôi hơn, bằng, kém; vẫn có thể còn ở bậc đã hết thân kiến.

Ngã mạn vi tế “tôi là”

asmimāna

Cảm nhận vi tế “tôi là” vẫn có thể còn sau khi thân kiến đã đoạn; cần phân biệt ngã mạn với tà kiến về tự ngã.

Trạo cử kiết sử

uddhacca

Sự dao động tinh tế của tâm, thuộc năm thượng phần kiết sử.

Vô minh kiết sử

avijjā

Sự chưa thấy đúng sự thật, là kiết sử cuối cùng được đoạn tận ở A-la-hán.

14Bảy tùy miên

Bảy tùy miên

satta anusayā

Bảy khuynh hướng phiền não tiềm ẩn: dục tham, sân, kiến, nghi, mạn, hữu tham và vô minh.

Tùy miên

anusaya

Khuynh hướng bất thiện còn tiềm ẩn, có thể hiện hành khi đủ duyên; khác với phiền não đang bộc lộ.

Dục tham tùy miên

kāmarāgānusaya

Khuynh hướng tìm khoái lạc giác quan, có thể còn dù hiện tại tâm không tham dục.

Sân tùy miên

paṭighānusaya

Khuynh hướng chống đối, sân hận tiềm ẩn, không phải chỉ một cơn giận hiện tại.

Kiến tùy miên

diṭṭhānusaya

Khuynh hướng bám giữ những quan điểm sai, nhất là về tự ngã.

Nghi tùy miên

vicikicchānusaya

Khuynh hướng hoài nghi cản trở việc chứng hiểu Chánh pháp.

Mạn tùy miên

mānānusaya

Khuynh hướng tự so sánh và dựng cảm nhận tôi là ở mức tinh tế.

Hữu tham tùy miên

bhavarāgānusaya

Khuynh hướng tham muốn tồn tại, tiếp tục hoặc trở thành.

Vô minh tùy miên

avijjānusaya

Khuynh hướng chưa biết đúng sự thật, giúp những khuynh hướng bất thiện khác tiếp tục.

15Bốn vô lượng tâm

Bốn vô lượng tâm

catasso appamaññā; cattāro brahmavihārā

Bốn tâm từ, bi, hỷ, xả được phát triển rộng lớn, không hạn cuộc vào người mình ưa.

Tâm bi

karuṇā

Tâm cảm thông và mong khổ được vơi bớt, không có nghĩa chìm trong khổ của người khác.

Tâm hỷ

muditā

Vui trước điều lành, niềm vui của người khác; khác với hỷ thiền pīti.

16Bảy Thánh tài

Bảy Thánh tài

satta ariyadhanāni

Bảy tài sản cao quý: tín, giới, tàm, quý, văn, thí và tuệ.

Tín tài

saddhādhana

Đức tin vào giác ngộ và con đường tu được xem như tài sản nội tâm.

Giới tài

sīladhana

Giới hạnh vững vàng tạo sự an toàn và không hối tiếc.

Tàm tài

hirīdhana

Lòng hổ thẹn trước bất thiện được xem là tài sản bảo hộ.

Quý tài

ottappadhana

Biết e sợ nguy hại của điều ác, giúp ngăn việc làm sai.

Văn tài

sutadhana

Sự nghe học, ghi nhớ, suy xét và hiểu Chánh pháp đúng đắn.

Thí tài

cāgadhana

Lòng rộng rãi, không bỏn xẻn và biết chia sẻ đúng trách nhiệm.

Tuệ tài

paññādhana

Trí tuệ thấy sinh diệt, có sức hướng đến chấm dứt khổ.

17Quy y, niềm tin và thiện tri thức

Tam bảo

tiratana; ratanattaya

Ba ngôi báu Phật, Pháp và Tăng được tôn kính và nương tựa.

Tam quy y

tisaraṇa

Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng; xác lập hướng học và hành, không thay thế sự thực hành.

Quy y

saraṇagamana

Quay về nương tựa Tam bảo để học và hành theo giáo pháp.

Quy y Phật

buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi

Nương nơi bậc giác ngộ làm thầy, không xem Đức Phật là đấng quyết định số phận.

Quy y Pháp

dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi

Nương lời dạy về khổ và đường chấm dứt khổ để tự mình thực hành.

Quy y Tăng

saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi

Nương nơi Tăng đoàn chân chính, đặc biệt cộng đồng Thánh đệ tử.

Tăng

saṅgha

Tăng đoàn; trong ý nghĩa quy y cao quý nhấn mạnh đoàn thể Thánh đệ tử.

Thiện hữu tri thức

kalyāṇamittatā

Phẩm chất, điều kiện được gần gũi và nương nhờ những người bạn lành.

Đức tin đúng

saddhā; pasāda

Niềm tin có cơ sở và hướng tới thực hành, không lấy sự tin tưởng thay thế chứng biết.

Hộ trì chân lý

saccānurakkhaṇa

Trình bày điều mình tin một cách trung thực mà không tự nhận là chân lý đã chứng ngộ.

Bốn điều kiện hướng đến nhập dòng

sotāpattiyaṅgāni

Thân cận chân nhân, nghe Chánh pháp, như lý tác ý, thực hành pháp tùy pháp (SN 55.5, 55.50). Phân biệt với bốn phẩm chất được dùng để xác nhận một bậc Dự lưu.

Chân nhân

sappurisa

Người có phẩm chất chân chánh, đáng thân cận và học hỏi; không đồng nhất mọi người có địa vị với bậc Thánh.

Nhập dòng

sotāpatti

Bước vào dòng Thánh đạo, tương ứng Dự lưu; không đồng nghĩa cảm giác an ổn hoặc sự tin tưởng mạnh mẽ.

Niệm giới

sīlānussati

Nhớ lại giới hạnh được giữ gìn trong sạch nhằm nuôi dưỡng hỷ và không hối hận.

Niệm Pháp

dhammānussati

Tùy niệm phẩm chất và giá trị thực chứng của giáo pháp chân chính.

Niệm Phật

buddhānussati

Tùy niệm các phẩm chất chân chính của Đức Phật để nuôi lớn tín tâm, hỷ và sự định tĩnh.

Niệm thí

cāgānussati

Nhớ lại đức rộng rãi và tâm biết chia sẻ; một pháp tùy niệm được dạy cho người cư sĩ.

Niệm Tăng

saṅghānussati

Tùy niệm phẩm chất của Tăng đoàn bậc Thánh được kinh tán thán.

Pháp tùy pháp hành

dhammānudhammapaṭipatti

Thực hành phù hợp Chánh pháp và mục đích của pháp; một trong bốn điều kiện hỗ trợ nhập dòng.

Tịnh tín

pasāda

Sự tin tưởng trong sáng nơi Tam bảo, phát triển qua hiểu biết và thực hành; không phải mọi niềm tin đều là bất động.

Tịnh tín bất động

aveccappasāda

Niềm tin vững chắc của bậc Dự lưu đối với Phật, Pháp, Tăng; khác với cảm xúc tín tâm nhất thời.

18Ba cửa giải thoát

Ba cửa giải thoát

tīṇi vimokkhamukhāni (thuật ngữ hệ thống)

Ba hướng quán chiếu không tánh, vô tướng, vô nguyện; không đồng nhất máy móc với ba đặc tướng.

Không tánh

suññatā

Trống vắng tự ngã và cái thuộc tự ngã; không có nghĩa mọi hiện tượng đều không tồn tại.

Vô tướng

animitta

Không nắm các dấu hiệu làm cơ sở chấp thủ; trong định và giải thoát có những ngữ cảnh chuyên biệt.

Vô nguyện

appaṇihita

Không còn hướng tâm khát cầu hay thiết lập chỗ nương bằng tham ái; khác với bỏ mọi ý muốn thiện.

Không định

suññata-samādhi

Định hướng tới tính không theo pháp được quán; SN 43.4 nêu cùng vô tướng định và vô nguyện định là đường hướng tới pháp vô vi.

Vô nguyện định

appaṇihita-samādhi

Sự định tâm không hướng theo mong cầu chiếm giữ; trong SN 43.4 được nêu cùng không định và vô tướng định.

Vô tướng định

animitta-samādhi

Sự định tâm theo hướng không nắm giữ các tướng; không nên đồng nhất đơn thuần với mất hết tri giác.

19Bốn Thánh quả

Bốn Thánh quả

cattāri sāmaññaphalāni

Bốn quả Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán, phân biệt qua những kiết sử được đoạn trừ.

Dự lưu

sotāpanna

Bậc nhập dòng Thánh đạo, đoạn tận thân kiến, nghi và giới cấm thủ.

Nhất lai

sakadāgāmī

Bậc đã đoạn ba kiết sử đầu, làm mỏng tham, sân, si và còn trở lại tối đa một lần theo cách diễn đạt kinh điển.

Bất lai

anāgāmī

Bậc đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không tái sinh trở lại dục giới.

Ba kiết sử đầu

tīṇi saṃyojanāni

Thân kiến, nghi và giới cấm thủ, được đoạn tận ở quả Dự lưu.

Quả Dự lưu

sotāpattiphala

Quả chứng đầu tiên khi ba kiết sử đầu đã được đoạn tận; khác với chỉ có niềm tin vững mạnh.

Quả Nhất lai

sakadāgāmiphala

Quả chứng thứ hai, có sự làm mỏng tham, sân, si nhưng chưa đoạn tận năm hạ phần kiết sử.

Quả Bất lai

anāgāmiphala

Quả chứng thứ ba sau khi năm hạ phần kiết sử được đoạn tận, không tái sinh trong dục giới.

Quả A-la-hán

arahattaphala

Quả chứng thứ tư: lậu hoặc và các kiết sử đã được đoạn tận, con đường tu học hoàn tất.

20Niết-bàn và ly tham

Niết-bàn giới

nibbānadhātu

Giới Niết-bàn, sự tắt tham, sân, si; không phải một cảnh giới hữu vi để đi đến.

Niết-bàn hữu dư y

sa-upādisesā nibbānadhātu

Niết-bàn giới khi bậc A-la-hán còn sống, các căn và cảm thọ vẫn vận hành.

Niết-bàn vô dư y

anupādisesā nibbānadhātu

Niết-bàn giới liên hệ sự chấm dứt hoàn toàn các cảm thọ khi bậc A-la-hán thân hoại; không mô tả linh hồn đi đâu.

Hữu dư y

sa-upādisesa

Còn phần dư y nơi thân và các căn trong đời sống của bậc giải thoát.

Vô dư y

anupādisesa

Không còn phần dư y sau thân hoại của bậc đã đoạn tận lậu hoặc.

Tham diệt

rāgakkhaya

Sự đoạn tận tham ái, không chỉ tạm thời không có mong muốn trong tâm.

Sân diệt

dosakkhaya

Sự đoạn tận sân hận, không đồng nghĩa mất khả năng nhận diện và ngăn điều hại.

Si diệt

mohakkhaya

Sự đoạn tận mê mờ, không phải tình trạng mất khả năng nhận biết.

Tâm giải thoát

cetovimutti

Giải thoát của tâm khỏi sự trói buộc; cần đọc đúng phạm vi ngữ cảnh từng bài kinh.

Mũi tên thứ hai

salla (ẩn dụ trong SN 36.6)

Khổ não tinh thần có thể cộng thêm vào đau đớn thân do phản ứng chống đối và chấp thủ.

Số lần xuất hiện chỉ tính khớp chính xác tên thuật ngữ nhiều âm tiết. Thuật ngữ một âm tiết như “Thọ”, “Ái” trùng với nhiều từ thông thường nên được dẫn sang trang tìm kiếm để bạn tự đối chiếu ngữ cảnh.