Mục lục

80 chương

Theo đúng thứ tự và tên chương của tác giả. Tiến độ đọc trên thiết bị này được đánh dấu bằng sợi chỉ bên trái mỗi chương.

Phần đầu sách

  1. Lời người viếttr. 2
  2. Lời mở đầutr. 4

Nội dung chính

  1. 1Duyên khởiCánh cửa đầu tiên bước vào giáo pháp của Đức Phậttr. 10
    8 tiểu mục
    1. Duyên khởi là sự thật đang vận hành
    2. Nhìn thế giới bằng con mắt của Duyên khởi
    3. Duyên khởi không phải là lý thuyết mà là sự thật đang diễn ra
    4. Từ cái thấy về Duyên khởi đến sự chuyển hóa của con người
    5. Khi thấy rõ Duyên khởi, chúng ta bắt đầu thấy rõ chính mình
    6. Duyên khởi và cánh cửa mở vào trí tuệ
    7. Thấy Duyên khởi là bắt đầu bước đi trên con đường giải thoát
    8. Duyên khởi – Cánh cửa đầu tiên mở ra toàn bộ giáo pháp
  2. 2Vì sao con người không thấy Duyên khởiĐiều che khuất cái thấy về các pháp duyên sinhtr. 36
    8 tiểu mục
    1. Vì sao con người không thấy được Duyên khởi
    2. Vô minh không phải là thiếu kiến thức mà là không thấy đúng sự thật
    3. Vì sao chúng ta luôn thấy có một cái tôi
    4. Tà kiến được hình thành như thế nào
    5. Chỉ học giáo lý thôi vẫn chưa đủ
    6. Bắt đầu thấy Duyên khởi ngay trong đời sống hằng ngày
    7. Thấy Duyên khởi để bắt đầu sống với chánh kiến
    8. Thấy Duyên khởi là đặt nền móng cho toàn bộ con đường tu học
  3. 3Vô thườngSự thật đang diễn ra trong từng khoảnh khắctr. 65
    8 tiểu mục
    1. Vô thường trong từng khoảnh khắc
    2. Vì sao chúng ta không nhận ra vô thường
    3. Chấp thủ sinh khởi vì tưởng rằng mọi thứ sẽ còn mãi
    4. Vô thường không phải là sự hủy diệt mà là điều kiện của mọi sự sống
    5. Thấy vô thường bằng trí tuệ khác với nghĩ về vô thường bằng tư duy
    6. Thấy vô thường để không còn bị vô thường cuốn đi
    7. Thấy vô thường là bước đầu để thấy Khổ
    8. Vô thường không phải để bi quan mà để sống tỉnh thức
  4. 4KhổĐiều bất toại nguyện trong đời sống hữu vitr. 90
    8 tiểu mục
    1. Có phải Đức Phật nói cuộc đời chỉ toàn đau khổ
    2. Ba loại khổ mà Đức Phật chỉ dạy
    3. Vì sao ngay cả niềm vui cũng mang bản chất của khổ
    4. Khổ tâm không chỉ đến từ hoàn cảnh mà còn được nuôi dưỡng bởi chấp thủ
    5. Đoạn trừ tham ái không đồng nghĩa với trốn tránh đời sống
    6. Khổ không phải là hình phạt, cũng không do một nguyên nhân duy nhất
    7. Liễu tri Khổ đế để thấy rõ điều cần đoạn trừ
    8. Từ Khổ đế đến Tập đế, Diệt đế và Đạo đế
  5. 5Vô ngãCó thật sự tồn tại một cái tôi bất biếntr. 106
    8 tiểu mục
    1. Có thật sự tồn tại một cái tôi hay không
    2. Thân này có thật là tôi hay chỉ là sự kết hợp của nhân và duyên
    3. Cảm thọ có phải là tôi hay không
    4. Tưởng hành và thức có thật sự là một cái tôi đang điều khiển mọi thứ
    5. Vô ngã không có nghĩa là không có con người
    6. Thấy Vô ngã không làm mất đi trách nhiệm mà làm cho trách nhiệm trở nên trong sáng hơn
    7. Khi không còn chấp ngã con đường giải thoát mới thật sự mở ra
    8. Vô ngã Cánh cửa cuối cùng mở ra trí tuệ giải thoát
  6. 6Chánh kiếnCánh cửa mở ra con đường giải thoáttr. 133
    8 tiểu mục
    1. Chánh kiến mở đầu con đường giải thoát
    2. Chánh kiến không phải là niềm tin mà là cái thấy đúng về sự thật
    3. Tà kiến bắt đầu từ đâu và vì sao nó dẫn đến khổ đau
    4. Chánh kiến bắt đầu từ việc thấy đúng Duyên khởi
    5. Chánh kiến phải được nuôi dưỡng bằng sự quán sát không phải bằng sự ghi nhớ
    6. Chánh kiến dẫn đường cho toàn bộ Bát Chánh Đạo
    7. Chánh kiến không phải là đích đến mà là ánh sáng soi đường
    8. Chánh kiến là điểm khởi đầu của giác ngộ và là người bạn đồng hành suốt con đường tu tập
  7. 7Chánh tư duyNơi lời nói và hành động bắt đầutr. 162
    8 tiểu mục
    1. Nơi mọi lời nói và hành động được sinh ra
    2. Ba loại Chánh tư duy mà Đức Phật chỉ dạy
    3. Mọi lời nói và hành động đều bắt đầu từ một ý nghĩ
    4. Chuyển hóa dòng tư duy theo Duyên khởi
    5. Thay đổi dòng tư duy là thay đổi cả cuộc đời
    6. Chánh tư duy là chiếc cầu nối giữa trí tuệ và hành động
    7. Chánh tư duy trong đời sống hằng ngày Tu tập bắt đầu từ từng ý nghĩ rất nhỏ
    8. Chánh tư duy Chuyển hóa từ gốc rễ để đi đến giải thoát
  8. 8Chánh ngữKhi lời nói trở thành nhân của hạnh phúc hoặc khổ đautr. 180
    8 tiểu mục
    1. Khi lời nói trở thành một hành động của nghiệp
    2. Bốn loại tà ngữ mà Đức Phật dạy cần từ bỏ
    3. Lời nói phản ánh trực tiếp trạng thái của tâm
    4. Chánh ngữ được xây dựng trên Chánh kiến và Chánh tư duy
    5. Nói lời chân thật hòa hợp ôn hòa và lợi ích
    6. Thực hành Chánh ngữ trong gia đình công việc và xã hội
    7. Im lặng đúng lúc cũng là một phần của Chánh ngữ
    8. Chánh ngữ Đưa trí tuệ từ nội tâm đi vào cuộc sống
  9. 9Chánh nghiệpMỗi hành động đang tạo điều kiện cho tương laitr. 198
    8 tiểu mục
    1. Mỗi hành động đều đang gieo một nhân cho tương lai
    2. Ba loại thân nghiệp bất thiện và ba loại thân nghiệp thiện
    3. Chánh nghiệp là sự tiếp nối tự nhiên của Chánh tư duy và Chánh ngữ
    4. Hành động theo Duyên khởi và trách nhiệm đối với nghiệp
    5. Thực hành Chánh nghiệp trong đời sống hằng ngày
    6. Từ hành động thiện đến sự thanh tịnh của thân và tâm
    7. Chánh nghiệp là nền tảng của giới và sự an ổn nội tâm
    8. Chánh nghiệp Đưa trí tuệ trở thành hành động và đời sống
  10. 10Chánh mạngNuôi sống mình bằng con đường chân chánhtr. 218
    8 tiểu mục
    1. Nuôi sống mình bằng con đường chân chánh
    2. Năm nghề Đức Phật khuyên người cư sĩ nên tránh
    3. Kiếm sống theo Duyên khởi và trách nhiệm đối với xã hội
    4. Chánh mạng không chỉ là chọn nghề mà còn là cách hành nghề
    5. Thực hành Chánh mạng trong bối cảnh xã hội hiện đại
    6. Mối liên hệ giữa Chánh mạng và sự thanh tịnh của thân khẩu ý
    7. Chánh mạng là nền tảng để nuôi dưỡng định và tuệ
    8. Chánh mạng Biến công việc hằng ngày thành một phần của con đường giải thoát
  11. 11Chánh tinh tấnNỗ lực đúng để chuyển hóa thân khẩu ýtr. 240
    8 tiểu mục
    1. Nỗ lực đúng để chuyển hóa thân khẩu ý
    2. Bốn Chánh cần Con đường nuôi dưỡng điều thiện và chuyển hóa điều bất thiện
    3. Chánh tinh tấn theo Duyên khởi Không rơi vào ép xác hay buông lung
    4. Vai trò của Chánh tinh tấn trong việc chuyển hóa tập khí
    5. Thực hành Chánh tinh tấn trong đời sống hằng ngày
    6. Chánh tinh tấn là động lực nuôi dưỡng Chánh niệm và Chánh định
    7. Những hiểu lầm thường gặp về sự tinh tấn trong tu học
    8. Chánh tinh tấn Nỗ lực đúng để toàn bộ Bát Chánh Đạo vận hành và trưởng thành
  12. 12Chánh niệmThấy thân thọ tâm pháp như chúng đang làtr. 262
    8 tiểu mục
    1. Thấy thân thọ tâm pháp như chúng đang là
    2. Chánh niệm không phải là tập trung hay chỉ nghĩ về hiện tại
    3. Bốn Niệm xứ Con đường Đức Phật chỉ dạy để phát triển Chánh niệm
    4. Chánh niệm dưới ánh sáng của Duyên khởi và Tứ Thánh Đế
    5. Thực hành Chánh niệm trong mọi sinh hoạt hằng ngày
    6. Những hiểu lầm thường gặp về Chánh niệm
    7. Chánh niệm là điều kiện trực tiếp cho Chánh định và trí tuệ
    8. Chánh niệm Sống tỉnh thức để thấy rõ sự thật và đoạn tận khổ đau
  13. 13Chánh địnhNền an trú của tâm và điều kiện của trí tuệtr. 285
    8 tiểu mục
    1. Nền tảng an trú của tâm và sự hiển lộ của trí tuệ
    2. Sự khác biệt giữa Chánh định và sự tập trung thông thường
    3. Bốn tầng Thiền Tiến trình an định của tâm theo lời Đức Phật
    4. Chánh định dưới ánh sáng của Duyên khởi và Tứ Thánh Đế
    5. Vai trò của Chánh định trong việc đoạn trừ tham sân và si
    6. Những hiểu lầm thường gặp về Thiền định và Chánh định
    7. Chánh định là điều kiện trực tiếp cho tuệ giác giải thoát
    8. Chánh định Tâm an trú để thấy như thật và chấm dứt khổ đau
  14. 14Bát Chánh Đạo dưới ánh sáng Duyên khởiTám chi phần của một con đường thống nhấttr. 310
    8 tiểu mục
    1. Vì sao Bát Chánh Đạo phải được hiểu dưới ánh sáng Duyên khởi
    2. Bát Chánh Đạo không phải tám bước tuần tự mà là một hệ thống Duyên khởi
    3. Mối quan hệ giữa Giới Định Tuệ trong tiến trình chuyển hóa
    4. Duyên khởi vận hành trong từng yếu tố của Bát Chánh Đạo
    5. Từ vô minh đến giải thoát Sự đảo chiều của chuỗi Duyên khởi
    6. Những hiểu lầm thường gặp khi học Bát Chánh Đạo
    7. Ứng dụng Bát Chánh Đạo trong đời sống hiện đại
    8. Bát Chánh Đạo Con đường Trung đạo đưa đến đoạn tận khổ đau
  15. 15Thấy Duyên khởi là thấy PhápÝ nghĩa của việc thấy Như Laitr. 334
    8 tiểu mục
    1. Ý nghĩa lời dạy Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp ai thấy Pháp là thấy Như Lai
    2. Vì sao Duyên khởi là cốt lõi của toàn bộ giáo pháp
    3. Duyên khởi và Tứ Thánh Đế là một thực tại dưới hai góc nhìn
    4. Vì sao không thấy Duyên khởi thì khó thấy đúng các pháp
    5. Duyên khởi Vô thường Khổ và Vô ngã là bốn mặt của cùng một sự thật
    6. Những hiểu lầm khi học Duyên khởi
    7. Ứng dụng cái thấy Duyên khởi trong đời sống và tu tập
    8. Thấy đúng thực tại là bắt đầu con đường giải thoát
  16. 16Vô minhGốc rễ của khổ đautr. 357
    8 tiểu mục
    1. Vô minh là gì theo lời Đức Phật
    2. Vì sao vô minh là gốc rễ của khổ đau
    3. Vô minh đối với Tứ Thánh Đế
    4. Vô minh đối với Duyên khởi
    5. Vô minh và sự hình thành bản ngã
    6. Vô minh nuôi dưỡng tham sân si như thế nào
    7. Con đường đoạn trừ vô minh bằng Giới Định Tuệ
    8. Khi vô minh đoạn tận minh sinh khởi và khổ đau chấm dứt
  17. 17MinhÁnh sáng của cái thấy đúngtr. 379
    8 tiểu mục
    1. Khi bóng tối vô minh bắt đầu được soi sáng
    2. Minh không phải là biết nhiều mà là thấy đúng
    3. Cái thấy đúng làm thay đổi cách chúng ta sống với khổ đau
    4. Khi Duyên khởi được thấy rõ các pháp không còn cứng đặc
    5. Khi bản ngã không còn đứng ở trung tâm của cái thấy
    6. Ánh sáng của minh làm tham sân si mất chỗ nương tựa
    7. Nuôi dưỡng minh trong từng lời nói hành động và tâm niệm
    8. Khi minh sinh khởi con đường giải thoát bắt đầu hiển lộ
  18. 18Tứ Thánh ĐếBản đồ chỉ thẳng vào khổ và con đường ra khỏi khổtr. 403
    8 tiểu mục
    1. Bốn sự thật không phải để tin mà để thấy
    2. Khổ Đế Nhìn thẳng vào điều chúng ta thường muốn tránh né
    3. Tập Đế Tham ái chấp thủ và vô minh làm khổ sinh khởi
    4. Diệt Đế Sự tắt lửa của tham ái và chấp thủ
    5. Đạo Đế Con đường không né tránh khổ mà chuyển hóa tận gốc
    6. Bốn sự thật như một tiến trình Duyên khởi sống động
    7. Những hiểu lầm khiến Tứ Thánh Đế bị hiểu cạn
    8. Từ thấy khổ đến bước đi trên con đường giải thoát
  19. 19Khổ ĐếSự thật cần được liễu tritr. 427
    8 tiểu mục
    1. Biết mình đang khổ chưa có nghĩa là đã hiểu khổ
    2. Sinh già bệnh và chết không phải bốn sự kiện tách rời
    3. Gặp điều không ưa xa điều thương và mong cầu không thành
    4. Ba chiều sâu của khổ trong đời sống hữu vi
    5. Tóm lại năm uẩn bị chấp thủ là khổ
    6. Một nỗi đau có thể được tâm mang đi rất xa
    7. Thấy khổ làm lòng từ bi và sự trân trọng trở nên sâu hơn
    8. Thấy gánh nặng để nhận ra bàn tay đang nắm giữ
  20. 20Tập ĐếNguồn khổ cần được đoạn tậntr. 454
    8 tiểu mục
    1. Khổ đau không tự nhiên xuất hiện
    2. Ái là dòng khát khiến tâm không thể dừng lại
    3. Cảm thọ là nơi ái bắt đầu tìm chỗ nương
    4. Ba hướng đi của dòng ái
    5. Khi ái trở thành thủ mong muốn biến thành gánh nặng
    6. Vô minh là bóng tối làm cho ái có vẻ như con đường hạnh phúc
    7. Khổ được nuôi trong những điều rất quen thuộc
    8. Phận sự đối với nguồn khổ là đoạn tận
  21. 21Diệt ĐếKhi nguyên nhân dừng khổ không còn chỗ nươngtr. 484
    8 tiểu mục
    1. Khổ có thể chấm dứt vì khổ không phải một định mệnh
    2. Cái được chấm dứt là sự thiêu đốt không phải sự sống
    3. Khi nhiên liệu không còn ngọn lửa không thể tự cháy
    4. Ly tham không phải ghét bỏ mà là không còn bị cuốn đi
    5. Từ bỏ xả ly và giải thoát khỏi sự nắm giữ
    6. Cảm thọ vẫn sinh nhưng không còn bị biến thành tôi và của tôi
    7. Diệt Đế cần được chứng ngộ không chỉ được đồng ý bằng lý luận
    8. Sự chấm dứt khổ mở ra con đường cần được bước đi
  22. 22Đạo ĐếCon đường cần được tu tậptr. 508
    8 tiểu mục
    1. Biết có con đường chưa có nghĩa là đã bước đi
    2. Trung đạo không phải đứng giữa mà là vượt khỏi hai cực đoan
    3. Đạo Đế là chiều Duyên khởi đưa khổ đến chỗ đoạn diệt
    4. Tám chi phần cùng chuyển một đời sống theo một hướng
    5. Giới Định và Tuệ không phải ba tầng tách biệt
    6. Con đường lớn lên nhờ những nhân duyên được chăm sóc
    7. Dấu hiệu của con đường nằm trong sự suy yếu của tham sân và si
    8. Con đường được tu tập cho đến khi không còn việc phải làm
  23. 23Mười hai nhân duyênBản đồ vận hành của sinh tử và giải thoáttr. 533
    8 tiểu mục
    1. Khi khổ được nhìn như một dòng có nguyên nhân
    2. Vô minh làm đời sống đi lệch từ nơi cái thấy chưa sáng
    3. Thức và danh sắc không cần một người biết đứng phía sau
    4. Xúc và thọ là nơi kinh nghiệm bắt đầu có vị
    5. Khi cảm thọ bị nắm cơn khát bắt đầu có tiếng nói
    6. Hữu và sinh đưa Duyên khởi ra khỏi phạm vi một khoảnh khắc tâm
    7. Mười hai nhân duyên không phải một dây xích chỉ có một chỗ để cắt
    8. Chiều đoạn diệt cho thấy sinh tử không phải một định mệnh
  24. 24Năm uẩnKhi cái tôi chỉ là một dòng duyên sinhtr. 555
    8 tiểu mục
    1. Khi một con người được nhìn sâu hơn cái tên đang mang
    2. Năm uẩn là năm vùng của kinh nghiệm không phải năm mảnh ghép của một tự ngã
    3. Khổ trở nên sâu khi năm uẩn bị nắm thành tôi và của tôi
    4. Cái gì luôn đổi thì không thể hoàn toàn sống theo mệnh lệnh của chúng ta
    5. Vô ngã không xóa con người nó xóa sự tưởng lầm về một lõi bất biến
    6. Chính Duyên khởi làm năm uẩn không thể trở thành nơi nương tuyệt đối
    7. Khi năm uẩn không còn bị gom thành một cái tôi khổ đổi hình dạng
    8. Thấy năm uẩn như thật là bắt đầu đặt xuống gánh nặng phải trở thành một cái tôi
  25. 25Sắc uẩnThân thể dưới ánh sáng tứ đại và Duyên khởitr. 577
    8 tiểu mục
    1. Thân này gần đến mức chúng ta hiếm khi nghi ngờ chữ tôi
    2. Tứ đại không phải bốn chất bí ẩn mà là bốn phương diện của sắc
    3. Đại ở trong thân và đại ở ngoài thân không mang hai bản chất khác nhau
    4. Thân tồn tại bằng vay mượn từng ngày
    5. Già bệnh và biến đổi đã nằm trong thân từ khi thân được sinh
    6. Không làm chủ tuyệt đối không có nghĩa là không thể chăm sóc và chuyển hóa
    7. Khi thân không còn là căn cước vẻ đẹp và khiếm khuyết đều trở về đúng vị trí
    8. Thấy thân chỉ là thân không làm đời sống lạnh đi
  26. 26Thọ uẩnCảm giác và ngã chấp trong từng kinh nghiệmtr. 598
    8 tiểu mục
    1. Mỗi kinh nghiệm đều mang một vị trước khi tâm kịp kể thành câu chuyện
    2. Thọ sinh từ xúc nên chưa từng tự mình đứng riêng
    3. Dễ chịu trở thành chỗ bám khi tâm muốn giữ nhiều hơn chính cảm thọ
    4. Khó chịu không cần trở thành toàn bộ con người đang chịu
    5. Thọ trung tính dễ bị bỏ quên nên vô minh thường có chỗ ẩn ở đó
    6. Cảm thọ luôn đổi nên không thể làm nền cho một bản ngã ổn định
    7. Chấp thọ làm tôi khiến đời sống lên xuống theo từng làn cảm giác
    8. Khi thọ chỉ còn là thọ tưởng bắt đầu lộ rõ vai trò của nó
  27. 27Tưởng uẩnNhận diện ký ức và thế giới được kinh nghiệm qua tâmtr. 619
    8 tiểu mục
    1. Trước khi gọi tên thế giới tâm đã nhận ra những dấu của nó
    2. Tưởng góp phần làm cái quen được nhận lại nhưng ký ức rộng hơn tưởng
    3. Tên gọi giúp chúng ta sống nhưng tên gọi không chứa hết thực tại
    4. Tham và sân làm một dấu nhỏ có thể che gần hết đối tượng
    5. Hình ảnh về bản thân cũng chỉ là một hình thức được tâm nhận và giữ
    6. Tưởng có thể được giáo dục để nhận các pháp gần với sự thật hơn
    7. Khi tưởng được thấy là tưởng phản ứng không còn phải chạy ngay theo dấu đầu tiên
    8. Tưởng cho thế giới một hình dạng hành sẽ cho tâm một hướng
  28. 28Hành uẩnTác ý tập khí và dòng tạo nghiệptr. 646
    8 tiểu mục
    1. Từ chỗ nhận biết đến chỗ tâm bắt đầu tạo hướng
    2. Tác ý làm nghiệp có hướng nhưng không phải mọi pháp vừa khởi đều mang cùng sức nghiệp
    3. Tập khí là sức của những hướng đã được nuôi không phải một bản chất nằm sẵn trong con người
    4. Hành uẩn và hành trong mười hai nhân duyên gặp nhau ở tạo tác nhưng không hoàn toàn cùng phạm vi
    5. Từ ý hướng trong tâm đến lời nói và hành động nghiệp mở thêm những duyên mới
    6. Con đường nuôi những tạo tác thiện để các hướng bất thiện mất dần sức
    7. Lựa chọn có điều kiện vẫn là lựa chọn và chính vì có điều kiện nên nó có thể được giáo dục
    8. Thấy hành uẩn vô ngã là thôi tìm một người điều khiển ẩn phía sau tác ý
  29. 29Thức uẩnSự nhận biết nương duyên mà sinhtr. 669
    8 tiểu mục
    1. Nơi cuối cùng cái tôi thường tìm đến là người đang biết
    2. Sáu thức không phải sáu cửa của một linh hồn duy nhất
    3. Khi căn và cảnh chưa gặp đúng duyên người biết cũng không thể tự mình tạo ra cái thấy
    4. Thức không tự làm thành một kinh nghiệm hoàn chỉnh
    5. Sự liên tục của nhận biết không chứng minh có một thức bất biến
    6. Thức trong mười hai nhân duyên không phải một linh hồn được đổi tên
    7. Chấp thức làm tự ngã là hình thức ngã chấp tinh tế nhất trong năm uẩn
    8. Khi thức được thấy là thức sáu cửa nhận biết bắt đầu hiện ra đúng như chúng đang là
  30. 30Sáu cănSáu cửa mở vào thế giới kinh nghiệmtr. 693
    8 tiểu mục
    1. Thế giới đi vào kinh nghiệm qua sáu cửa
    2. Căn không chỉ là bộ phận giải phẫu mà là nền của một loại kinh nghiệm
    3. Chính sự đổi thay của các căn làm thế giới được kinh nghiệm cũng đổi theo
    4. Ý căn không phải người ngồi phía sau năm giác quan
    5. Sáu căn thuộc Duyên khởi vì chúng cũng có điều kiện sinh và làm điều kiện cho phần sau
    6. Căn mở ra đối tượng nhưng tham sân không nằm sẵn trong sự thấy và nghe
    7. Không có một chủ nhân đứng giữa sáu cửa để sở hữu toàn bộ kinh nghiệm
    8. Thấy sáu căn đúng vị trí là chuẩn bị nhìn thế giới bên ngoài mà không dựng thêm một cái tôi
  31. 31Sáu trầnĐối tượng của nhận thức và sự dính mắctr. 720
    8 tiểu mục
    1. Phía đối diện của sáu căn là sáu phạm vi đối tượng
    2. Một đối tượng có đặc điểm của nó nhưng sức kéo không nằm hoàn toàn trong vật
    3. Tâm thường lấy một phần của đối tượng rồi sống như thể đó là toàn bộ
    4. Pháp trần mở ra một thế giới nơi đối tượng có thể hiện diện mà không cần đứng trước mắt
    5. Phân biệt cảnh với thức xúc và thọ giúp chúng ta không đặt toàn bộ khổ vào đối tượng
    6. Sở hữu đối tượng không có nghĩa sở hữu được kinh nghiệm mà tâm mong giữ
    7. Viễn ly giúp giảm duyên nhưng tự do sâu hơn phải đi tới mối quan hệ với cảnh
    8. Từ căn và trần sự nhận biết tương ứng mới mở cuộc gặp thành kinh nghiệm
  32. 32Sáu thứcSự nhận biết sinh khởi nơi căn và trầntr. 741
    8 tiểu mục
    1. Sự nhận biết được gọi tên theo chính điều kiện làm nó sinh khởi
    2. Cái thấy chỉ làm chức năng nhận biết nó không tự mang theo toàn bộ câu chuyện về vật được thấy
    3. Sáu thức có cùng tính duyên sinh nhưng không thể thay thế chức năng của nhau
    4. Ý thức là thức thứ sáu không phải vị chủ tọa đứng trên năm thức đầu
    5. Sáu thức thuộc thức uẩn nhưng thức uẩn không phải một khối chất đứng phía sau sáu loại nhận biết
    6. Cảm giác về một người biết liên tục được dựng từ sự nối tiếp rất nhanh của nhiều kinh nghiệm
    7. Khi thức chỉ được biết như thức phản ứng của tâm bớt được ngụy trang thành sự thật trực tiếp
    8. Khi căn cảnh và thức cùng hiện diện cuộc gặp bắt đầu mở sang một bước mới
  33. 33XúcKhoảnh khắc căn trần và thức gặp nhautr. 765
    8 tiểu mục
    1. Kinh nghiệm không bắt đầu từ một cái tôi có sẵn mà từ những điều kiện gặp nhau
    2. Xúc không chỉ là sự chạm của thân và đối tượng thân chạm không phải chính xúc
    3. Mỗi cửa nhận biết có một loại xúc tương ứng nên không có một cuộc gặp chung chung đứng sau tất cả
    4. Xúc chỉ có mặt khi cuộc gặp đang có điều kiện nên nó không phải một chiếc cầu tồn tại thường trực
    5. Cùng một cảnh không bảo đảm cùng một cuộc gặp vì căn và nhận biết cũng tham dự vào điều kiện
    6. Xúc làm duyên cho thọ nhưng bản thân cuộc gặp chưa phải cảm thọ
    7. Thấy xúc giúp chúng ta thôi quy toàn bộ kinh nghiệm cho cảnh hoặc cho một cái tôi bị cảnh tác động
    8. Từ cuộc gặp đến cảm thọ Duyên khởi bắt đầu đi vào vùng dễ bị tâm nắm nhất
  34. 34Thọ duyên áiTừ cảm giác đến sự bám víutr. 788
    8 tiểu mục
    1. Giữa cảm thọ và cơn muốn có một chuyển động rất nhỏ mà phần lớn chúng ta không nhận ra
    2. Lạc thọ không có lỗi nhưng tâm rất dễ biến cái dễ chịu thành một điều phải được giữ lại
    3. Khổ thọ gây đau nhưng phần chống lại cái đau có thể mở thêm một tầng khát vọng khác
    4. Thọ trung tính là nơi cơn khát thường ẩn dưới vẻ không có gì xảy ra
    5. Ái không nằm trong cảm thọ và cũng không được giấu sẵn trong đối tượng đang tiếp xúc
    6. Chánh niệm không ngăn thọ sinh nhưng làm khoảng chuyển từ cảm giác sang cơn khát trở nên sáng hơn
    7. Ái bắt đầu dựng cái tôi quanh cảm thọ trước khi sự nắm giữ trở nên rõ ràng
    8. Thấy thọ duyên ái là thấy nơi vòng khổ có thể đổi hướng mà không cần cảm thọ biến mất
  35. 35ÁiSức kéo của tham muốn và vòng sinh tửtr. 811
    8 tiểu mục
    1. Cơn khát bắt đầu khi tâm đòi cảm thọ phải đưa mình đến một nơi khác
    2. Dục ái khiến sáu trần mang lời hứa về một sự thỏa mãn mà chúng không thể giữ lâu
    3. Hữu ái tinh tế hơn dục ái vì đối tượng của nó có thể chính là con người mà chúng ta muốn trở thành
    4. Phi hữu ái là cơn khát muốn đoạn bỏ hiện hữu không như ý chứ không đơn giản là mọi ý muốn chấm dứt khó khăn
    5. Ái có thể đổi đối tượng rất nhanh trong khi cơn tìm kiếm phía dưới gần như không đổi
    6. Khi cơn khát được nuôi lâu nó bắt đầu tìm một chỗ để nắm chắc hơn
    7. Vì ái sinh do duyên nên ly tham có thể được tu tập mà không cần đàn áp cảm giác hay ý muốn
    8. Khi cơn khát yếu đi đời sống vẫn có hướng đi nhưng vòng sinh tử mất dần nhiên liệu của nó
  36. 36ThủKhi bám víu trở thành trói buộctr. 836
    8 tiểu mục
    1. Từ cơn khát đến bàn tay nắm chặt
    2. Dục thủ bắt đầu khi điều đem lại khoái cảm được kéo vào vòng tôi cần nó để được ổn
    3. Kiến thủ làm một cách nhìn trở thành căn cước khiến việc xét lại sự thật bị cảm như mất chính mình
    4. Chấp vào giới luật và nghi thức xảy ra khi phương tiện bị nắm như cứu cánh
    5. Ngã luận thủ là nơi bàn tay nắm quay vào chính năm uẩn và gọi một phần nào đó là tôi
    6. Thủ làm một đối tượng trở thành nơi cái tôi cư trú nên vô thường của đối tượng biến thành khủng hoảng của người nắm
    7. Thủ duyên hữu đưa sự bám víu vượt khỏi một phản ứng tâm lý nhất thời
    8. Buông thủ không làm đời sống mất ý nghĩa mà làm các pháp thôi phải gánh một cái tôi
  37. 37Hữu, sinh, già chếtCách một thế giới khổ được thành lậptr. 860
    8 tiểu mục
    1. Già chết không đợi đến cuối đời mới có nguyên nhân
    2. Hữu là sự hiện hữu được duy trì bởi các duyên, không phải một cái tôi đang âm thầm tồn tại
    3. Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu đều không vượt ngoài quy luật Duyên khởi
    4. Hữu duyên sinh: sự tiếp nối của đời sống không đòi hỏi một linh hồn phải đi qua
    5. Sinh không chỉ mở ra khả năng sống, mà còn đặt đời sống trong giới hạn của vô thường
    6. Già là sự suy giảm của một thân hữu vi, không phải sự mất đi phẩm giá của con người
    7. Chết là sự chấm dứt một đời sống, còn sầu bi khổ ưu não cho thấy chiều rộng của toàn bộ khối khổ
    8. Khi những duyên của hữu và sinh được đoạn tận, toàn bộ khối khổ mới không còn tiếp tục thành lập
  38. 38NghiệpHành động có chủ ý và hướng đi của đời sốngtr. 883
    8 tiểu mục
    1. Điều đã làm không thể trở thành chưa từng xảy ra, nhưng tương lai vẫn còn những điều có thể chuyển hướng
    2. Chủ ý là nghiệp: điểm quyết định nằm ở chủ ý hướng dẫn hành động
    3. Thiện nghiệp và bất thiện nghiệp được hiểu từ những gốc rễ đang dẫn dắt sự tạo tác
    4. Nghiệp có quả, nhưng quả nghiệp không vận hành như một phép tính đơn giản
    5. Không phải mọi điều chúng ta trải qua đều do nghiệp quá khứ quyết định
    6. Quá khứ có sức ảnh hưởng, nhưng cách sống hiện tại vẫn góp phần quyết định hướng đi của nghiệp
    7. Hiểu nghiệp đúng giúp chúng ta sống có trách nhiệm mà không rơi vào sợ hãi hoặc tự mãn
    8. Con đường Đức Phật chỉ dạy không dừng ở nghiệp lành, mà hướng tới sự chấm dứt những nhân tạo tác trói buộc
  39. 39Ý nghiệpNơi nghiệp bắt đầu trước khi thành lời và việctr. 907
    8 tiểu mục
    1. Một ý hướng có thể được nuôi dưỡng rất lâu trước khi trở thành hành động
    2. Giữa điều vừa khởi lên và điều được chủ động nuôi dưỡng có một sự khác biệt cần thấy rõ
    3. Lòng muốn chiếm giữ tài vật của người khác có thể được nuôi lớn ngay trong những suy tính thầm kín
    4. Hại ý là khi tâm bắt đầu mong điều bất hạnh xảy đến cho người khác
    5. Tà kiến cũng thuộc bất thiện ý nghiệp, bởi cách nhìn sai có thể hướng dẫn những chủ ý sai
    6. Điều được suy nghĩ và quán xét thường xuyên có thể dần trở thành khuynh hướng của tâm
    7. Chuyển hướng chủ ý đòi sự tỉnh thức và hiểu biết, không phải cuộc chiến chống mọi suy nghĩ
    8. Sự thanh tịnh của ý nghiệp được nuôi dưỡng từ những lựa chọn không ai nhìn thấy
  40. 40Khẩu nghiệpTrách nhiệm đối với điều được nói ratr. 931
    8 tiểu mục
    1. Sự thật có thể được nói bằng lòng thương, nhưng cũng có thể bị sử dụng để gây tổn thương
    2. Khi lời đã được nói ra, chủ ý bên trong trở thành một hành động có khả năng ảnh hưởng đến người khác
    3. Khi sự chân thật bị đánh mất, điều tổn hại không chỉ nằm trong một câu nói sai
    4. Có những lời đúng nhưng không đem lại lợi ích, và có những lời khó nghe vẫn cần được nói
    5. Một lời được truyền đi có thể tiếp tục tác động đến những người không hiện diện khi nó được nói ra
    6. Lòng từ trong lời nói không phải sự chiều theo, mà là không nuôi ý muốn làm hại ngay cả khi phải bất đồng
    7. Khi đã nói sai, trách nhiệm không dừng ở sự hối tiếc mà cần đi tới sửa chữa
    8. Khi lời nói được nuôi dưỡng bởi Chánh kiến, trách nhiệm trở thành con đường làm suy yếu tham sân si
  41. 41Thân nghiệpKhi thân trở thành nơi biểu hiện của thiện và bất thiệntr. 954
    8 tiểu mục
    1. Có những điều thiện được thực hiện bằng cách không để tổn hại xảy ra
    2. Không thể chỉ nhìn cử động bên ngoài để biết đầy đủ tính chất của thân nghiệp
    3. Thân hành có thể làm thay đổi trực tiếp sự an toàn và điều kiện sống của người khác
    4. Thiện tâm cần được hướng dẫn để hành động thực sự trở thành sự nâng đỡ
    5. Phản tỉnh trước khi làm, trong khi làm và sau khi làm giúp hành động được thanh tịnh dần
    6. Khi tổn hại đã xảy ra, sự hối tiếc cần được đưa vào những việc sửa chữa thích hợp
    7. Thân có giới hạn, nên sự thực hành chân chánh cần đi cùng khả năng thực tế
    8. Thân là pháp hữu vi, nhưng những hành động chân chánh vẫn có ý nghĩa trên con đường giải thoát
  42. 42GiớiNền đất bảo hộ tự do chứ không phải hàng rào trói buộctr. 978
    8 tiểu mục
    1. Khi điều sai trở nên quen thuộc, giới giúp chúng ta nhận ra nơi cần dừng lại
    2. Giới là một sự học được tự nguyện thực hành và tiếp tục hoàn thiện
    3. Giữ giới cũng là trao sự an toàn cho những chúng sinh cùng sống với mình
    4. Tự do của người có giới nằm ở khả năng không phải làm theo mọi thúc đẩy
    5. Khi không ai chứng kiến, việc giữ giới cho thấy chúng ta đang nương vào điều gì
    6. Khi phạm lỗi, sự học cần tiếp tục bằng việc nhận biết và sửa đổi
    7. Từ giới hạnh đến không hối tiếc, tâm có điều kiện đi vào an tịnh và trí tuệ
    8. Giới được giữ bằng trí tuệ sẽ bảo hộ đời sống mà không trở thành một bản ngã mới
  43. 43Năm giớiNăm sự học giữ đời sống khỏi trượt vào tổn hạitr. 1001
    8 tiểu mục
    1. Năm điều học đi vào những nơi gần gũi nhất của đời sống
    2. Không sát sinh: Học tôn trọng sự sống trước khi quyền lực trở thành tổn hại
    3. Không lấy của không cho: Sự ngay thẳng được thể hiện khi quyền sở hữu của người khác được tôn trọng
    4. Không tà hạnh trong các dục: Giữ sự thân mật khỏi trở thành nơi gây tổn thương
    5. Không nói dối: Sự chân thật phải được giữ ngay khi lời nói sai có vẻ đem lại lợi ích
    6. Không đắm say rượu và các chất gây say: Gìn giữ sự tỉnh táo để những điều học khác không bị buông bỏ
    7. Khi một giới đã bị phạm, điều cần thiết là nhận trách nhiệm và phục hồi sự thực hành
    8. Năm giới được gìn giữ trong đời cư sĩ để con đường tu tập có một nền tảng chân chánh
  44. 44Tàm và quýHai sức mạnh bảo vệ phẩm hạnh từ bên trongtr. 1022
    8 tiểu mục
    1. Khi biết hổ thẹn trở thành một phẩm chất đáng quý
    2. Tàm là lòng tự trọng thiện lành trước điều bất thiện
    3. Quý là biết e sợ sự nguy hại của hành động bất thiện
    4. Tàm và quý cùng bảo hộ, nhưng mỗi pháp có một ý nghĩa riêng
    5. Sự xấu hổ khiến con người tự khinh miệt không phải điều Đức Phật khuyến khích
    6. Có khi chúng ta sợ điều đáng làm và không còn sợ điều đáng tránh
    7. Tàm và quý được trưởng dưỡng khi chúng ta học nhìn thẳng vào việc mình làm
    8. Hai pháp sáng giúp đời sống có phẩm hạnh và mở đường cho sự tu tập sâu hơn
  45. PHẦN 8 · Phòng hộ và phát triển tâm

    45Hộ trì các cănThấy mà không để tâm bị cuốn đitr. 1043
    8 tiểu mục
    1. Khi sự tiếp xúc đã qua mà tâm vẫn muốn giữ lại
    2. Không nắm giữ tướng chung, tướng riêng là thế nào?
    3. Mắt thấy và tai nghe: Hai nơi sự ưa ghét dễ được tiếp sức
    4. Mùi, vị và sự xúc chạm: Khi thân dễ khiến tâm tìm cách kéo dài khoái lạc hoặc chống lại khó chịu
    5. Ý căn: Khi đối tượng không còn ở trước mắt mà tâm vẫn tiếp tục nắm giữ
    6. Biết lựa chọn điều kiện tiếp xúc là một phần của sự phòng hộ
    7. Cảm giác ưa thích hoặc khó chịu có thể khởi lên, nhưng không cần trở thành sự chi phối kéo dài
    8. Khi các căn được hộ trì, đời sống vẫn được nhận biết mà tâm có thêm khả năng an trú
  46. 46Như lý tác ýĐặt tâm đúng chỗ để trí tuệ sinh khởitr. 1062
    8 tiểu mục
    1. Điều được chú tâm có thể mở ra hiểu biết hoặc khiến khổ đau tiếp tục
    2. Như lý tác ý là đặt sự chú tâm vào điều đáng được hiểu theo Chánh pháp
    3. Bốn sự thật về khổ là hướng quán sát căn bản của như lý tác ý
    4. Thấy nhân duyên là học nhận ra điều gì đang khiến khổ sinh khởi và tiếp tục
    5. Như lý tác ý còn giúp nhận ra những thiện pháp cần được nuôi dưỡng
    6. Sự chú tâm đúng chỗ phải phù hợp với điều kiện và trách nhiệm đang có
    7. Từ sự nhận biết đang có đến khả năng hiểu điều gì thật sự đáng được chú tâm
    8. Khi sự chú tâm được đặt đúng chỗ, trí tuệ có điều kiện thấy ra con đường đoạn khổ
  47. 47Không như lý tác ýCách tâm nuôi lớn điều chưa đáng lớntr. 1082
    8 tiểu mục
    1. Khi tâm chỉ tìm những điều xác nhận điều mình đã nghĩ
    2. Dục tham được nuôi lớn khi tâm chỉ giữ lấy phần đáng ưa của đối tượng
    3. Sân hận có thể được nuôi bằng những bằng chứng do chính tâm lựa chọn
    4. Hôn trầm và thụy miên được tiếp sức khi sự buông xuôi trở thành nếp suy xét
    5. Trạo cử và hối quá: Khi tâm cứ tiếp tục khuấy động chính mình
    6. Hoài nghi trở thành chướng ngại khi sự tìm hiểu không còn hướng tới hiểu biết
    7. Từ những suy xét sai lệch, lậu hoặc và các kiến chấp có thể được nuôi dưỡng sâu hơn
    8. Nhận ra điều đang nuôi tâm là bước đầu để không tiếp tục làm phiền não tăng trưởng
  48. 48Chánh niệm trong bốn oai nghiTỉnh thức giữa đời sống đang vận độngtr. 1102
    8 tiểu mục
    1. Một ngày có thể trôi qua rất đúng việc mà thiếu sự tỉnh thức
    2. Đi mà biết mình đang đi, để bước chân không chỉ hướng tới điểm đến
    3. Tư thế đứng và khoảng ngừng mà tâm thường muốn vượt qua
    4. Ngồi với sự rõ biết mà không rời trách nhiệm đang có
    5. Nằm xuống để nghỉ, vẫn có thể giữ sự tỉnh thức thích hợp
    6. Tỉnh giác được thể hiện trong cách chúng ta sử dụng thân để sống
    7. Giữ sự nối tiếp của Chánh niệm giữa những lần thay đổi oai nghi
    8. Sự rõ biết thân phải đưa đến một đời sống bớt phóng dật
  49. 49Quán thânBiết thân là thântr. 1116
    8 tiểu mục
    1. Thân này đang hiện hữu, nhưng chúng ta đã thật sự biết thân là gì?
    2. Hơi thở: Biết một thân đang sống mà không cần điều khiển mọi sự
    3. Thân đang đi, đứng, ngồi, nằm: Nhận ra hoạt động thay vì giữ lấy hình ảnh về mình
    4. Thân được sử dụng trong sinh hoạt, nhưng các hoạt động ấy không tạo thành một chủ thể bất biến
    5. Nhìn vào những thành phần của thân để thấy điều gì đang bị tô đẹp và nắm giữ
    6. Bốn đại: Thân được nhận ra qua những tính chất vật chất nương điều kiện
    7. Sự hoại diệt của thân: Nhận ra điều không một sinh mạng nào có thể tránh
    8. Quán thân như thân để thấy sinh diệt và sống không chấp trước
  50. 50Quán thọBiết cảm thọ mà không bị cảm thọ dẫn dắttr. 1138
    8 tiểu mục
    1. Cảm thọ đã có mặt trước khi chúng ta kịp giải thích điều gì đang xảy ra
    2. Khi lạc thọ có mặt, biết rõ niềm dễ chịu mà không biến nó thành điều phải giữ mãi
    3. Khổ thọ được nhận biết đúng, để nỗi đau không trở thành toàn bộ thế giới của tâm
    4. Thọ không khổ không lạc: Phần kinh nghiệm dễ bị lãng quên nhất
    5. Cùng là vui hay buồn, nhưng cảm thọ có thể nương vào những điều kiện rất khác nhau
    6. Quán thọ ngay khi cảm giác đang được kinh nghiệm, không cần dựng thêm một câu chuyện về người cảm nhận
    7. Thấy cảm thọ sinh khởi và đoạn diệt là nhìn ra điều mà sự mong muốn thường che khuất
    8. Cảm thọ vẫn được cảm nhận, nhưng không còn phải là nơi tâm tìm một chỗ nương tựa
  51. 51Quán tâmNhận ra trạng thái tâm đúng như nó đang làtr. 1161
    8 tiểu mục
    1. Tâm có thể thay đổi trước khi chúng ta nhận ra mình đã thay đổi
    2. Tâm có tham và tâm không tham: Nhận ra sức nắm giữ đang hiện diện
    3. Tâm có sân và tâm không sân: Biết rõ sự chống đối trước khi nó chi phối hành động
    4. Tâm có si và tâm không si: Nhận ra khi sự hiểu biết đang bị che khuất
    5. Tâm thâu nhiếp và tâm tán loạn: Hai trạng thái cần được phân biệt cho đúng
    6. Tâm quảng đại, tâm hữu hạn và những mức độ phát triển mà người tu cần hiểu đúng
    7. Tâm có định, không định, giải thoát và chưa giải thoát: Biết đúng mà không tự nhận điều chưa chứng
    8. Biết tâm như tâm để không biến một trạng thái đang có thành một cái tôi bất biến
  52. 52Quán phápThấy các khuôn vận hành của thiện, bất thiện và giải thoáttr. 1187
    8 tiểu mục
    1. Biết một trạng thái đang có mặt chưa đủ để hiểu nó đang được nuôi dưỡng như thế nào
    2. Năm triền cái: Thấy rõ điều đang ngăn trở tâm và cách chướng ngại được duy trì
    3. Năm thủ uẩn: Quán những uẩn có thể trở thành đối tượng chấp thủ mà không dựng thành một con người cố định
    4. Sáu nội ngoại xứ: Thấy sự ràng buộc ngay nơi những điều được tiếp xúc
    5. Bảy giác chi: Nhận ra những phẩm chất đang giúp tâm tiến tới giác ngộ
    6. Bốn Thánh đế: Nhìn thẳng vào khổ đau mà không dừng lại ở những biểu hiện trước mắt
    7. Khi pháp được nhận ra trong sự vận hành, hiểu biết không còn đứng ngoài việc tu tập
    8. Quán pháp để nhận ra điều kiện sinh diệt và không tiếp tục nương tựa nơi những gì đang bị chấp giữ
  53. 53Năm triền cáiNhững màn che làm tâm mất khả năng thấy rõtr. 1216
    8 tiểu mục
    1. Khi tâm bị che lấp, chính sự che lấp ấy cũng có thể không được nhận ra
    2. Dục tham: Khi tâm tiếp tục nuôi phần hấp dẫn của điều mình muốn có
    3. Sân: Từ một điều trái ý đến sự nuôi dưỡng ác ý trong lòng
    4. Hôn trầm thụy miên: Khi tâm mất sức sáng rõ và dễ nhầm sự trì trệ với an tĩnh
    5. Trạo cử hối quá: Sự dao động của tâm và những điều đã qua chưa được đặt đúng chỗ
    6. Nghi: Khi sự do dự trở thành chướng ngại đối với việc thấy và thực hành Chánh pháp
    7. Năm chướng ngại có thể nuôi dưỡng lẫn nhau, nhưng mỗi pháp vẫn cần được nhận ra riêng
    8. Khi năm triền cái suy yếu, tâm có điều kiện sáng rõ để tiếp tục phát triển định và tuệ
  54. 54Tứ chánh cầnBốn hướng nỗ lực làm tâm đổi chiềutr. 1245
    8 tiểu mục
    1. Một điều chưa xảy ra cũng có thể được chăm sóc bằng Chánh pháp
    2. Ngăn bất thiện chưa sinh: Biết phòng hộ trước khi tâm bị cuốn đi
    3. Đoạn bất thiện đã sinh: Thay đổi hướng hành động khi tâm chưa kịp yên
    4. Làm sinh thiện chưa có: Pháp lành cần những điều kiện để trưởng thành
    5. Gìn giữ thiện đã sinh: Đừng dừng lại nơi một lần làm đúng
    6. Cùng gọi là tinh tấn, nhưng cách dùng sức có thể đúng hoặc sai
    7. Kiểm chứng bốn chánh cần bằng những thay đổi có thể nhận ra
    8. Bốn hướng nỗ lực trong một đời sống còn nhiều điều phải học
  55. 55Tứ như ý túcDục, tinh tấn, tâm và quán trong năng lực tu tậptr. 1264
    8 tiểu mục
    1. Khi ý nguyện còn đó nhưng tâm chưa có sức đi đến cùng
    2. Dục như ý túc: Ý muốn chân chánh có thể đưa tâm đến định
    3. Tinh tấn như ý túc: Sức bền của tâm phải đi cùng khả năng an trú
    4. Tâm như ý túc: Một tâm hướng trọn vào pháp hành mà không bị chia kéo
    5. Quán như ý túc: Thẩm sát để sự thực hành không bị dẫn đi bởi tưởng tượng
    6. Bốn nền thành tựu liên hệ với nhau ra sao trong một pháp hành
    7. Thành tựu trong giáo pháp không đồng nghĩa quyền năng làm mọi điều theo ý muốn
    8. Khi đạt đến mục đích, ý muốn tu tập cũng không cần trở thành chỗ nắm giữ
  56. 56Ngũ cănNăm phẩm chất dẫn tâm đi đúng hướngtr. 1282
    8 tiểu mục
    1. Khi một điều đúng được thực hành bằng một tâm chưa quân bình
    2. Tín căn: Tin nơi sự giác ngộ để có hướng đi, nhưng không đình chỉ sự hiểu biết
    3. Tấn căn: Sự không buông bỏ trách nhiệm đối với thiện pháp
    4. Niệm căn: Nhớ điều cần nhớ để không đánh mất pháp hành
    5. Định căn: An trú đủ sâu để tâm không liên tục bị chi phối bởi đối tượng mới
    6. Tuệ căn: Sự hiểu biết hướng tới đoạn khổ, không dừng ở khả năng lý luận
    7. Quân bình năm căn: Nhìn chỗ lệch để điều chỉnh đúng điều kiện tu tập
    8. Năm căn được trưởng dưỡng để tâm có khả năng đi sâu vào giải thoát
  57. 57Ngũ lựcKhi năm căn trở thành sức mạnh không dễ lay chuyểntr. 1301
    8 tiểu mục
    1. Cùng năm phẩm chất, vì sao Đức Phật còn gọi là năm lực?
    2. Tín lực: Lòng tin có căn cứ khi gặp điều khiến tâm dao động
    3. Tấn lực: Sức không bỏ thiện pháp khi gặp trở ngại và biếng nhác
    4. Niệm lực: Không để sự quên mình âm thầm đổi hướng tâm
    5. Định lực: Sự an trú không dễ bị tán loạn làm mất nền tảng
    6. Tuệ lực: Trí tuệ không dễ bị vô minh kéo trở lại cách thấy cũ
    7. Sức của năm lực được thấy nơi quyết định không còn dễ đổi theo pháp đối nghịch
    8. Không dễ lay chuyển, nhưng cũng không dựng thêm một người bất động
  58. 58Bảy giác chiNhững yếu tố đưa tâm đến tỉnh giáctr. 1320
    8 tiểu mục
    1. Niệm giác chi: Biết đúng tình trạng tâm để sự tu tập có chỗ bắt đầu
    2. Trạch pháp giác chi: Sự khảo sát làm sáng pháp đang hiện diện
    3. Tinh tấn giác chi: Năng lực được khơi dậy từ sự thấy pháp đúng
    4. Hỷ giác chi: Niềm hân hoan không cần nương vào việc thỏa mãn dục vọng
    5. Khinh an giác chi: Khi sự hân hoan lắng dịu và thân tâm trở nên an tịnh
    6. Định giác chi: Sự an trú chín muồi nhờ các điều kiện đã được chăm sóc
    7. Xả giác chi: Sự quân bình sáng rõ khác với thờ ơ và cảm thọ trung tính
    8. Đúng thời và đúng pháp: Bảy giác chi cùng đưa tâm về hướng giải thoát
  59. PHẦN 9 · Những điều nuôi dưỡng và trói buộc

    59Ba độcTham, sân, si và cách chúng nương nhautr. 1338
    8 tiểu mục
    1. Một lời góp ý và những điều tâm đã mang sẵn
    2. Tham: Khi điều đang có vẫn chưa được tâm xem là đủ
    3. Sân: Khi sự trái ý trở thành ý muốn gây tổn hại
    4. Si: Khi nhận định sai được xem như một điều không cần kiểm tra
    5. Ba căn bất thiện có thể nương nhau mà đổi hướng một sự việc
    6. Từ căn bất thiện đến nghiệp: Điều tâm nuôi dưỡng có thể đi vào lời và việc
    7. Ba căn thiện: Những điều kiện đối trị cần được trưởng dưỡng thực sự
    8. Nhận ra gốc bất thiện để không tiếp tục nuôi con đường đưa tới khổ
  60. 60Lậu hoặcNhững dòng ngầm làm tâm tiếp tục trôi lăntr. 1358
    8 tiểu mục
    1. Điều đã qua rồi, nhưng sức tìm kiếm vẫn còn
    2. Dục lậu: khi khoái lạc đã qua nhưng sự đắm nhiễm tiếp tục
    3. Hữu lậu: sức muốn tiếp tục hiện hữu theo điều mình nắm giữ
    4. Vô minh lậu và sức trói buộc của kiến chấp
    5. Tri kiến và phòng hộ: đặt sự chú ý đúng trước khi lậu hoặc tăng trưởng
    6. Thọ dụng, kham nhẫn và tránh né: ba cách khác nhau để không nuôi lậu hoặc
    7. Trừ diệt và tu tập: không tiếp tục chứa chấp bất thiện, đồng thời phát triển điều dẫn tới giải thoát
    8. Tận lậu: chấm dứt nguyên nhân trói buộc, không phải làm tê lặng đời sống
  61. 61Mười kiết sửCác trói buộc từ thô đến tếtr. 1378
    8 tiểu mục
    1. Khi sự yên ổn chưa nói hết về những gì ràng buộc tâm
    2. Thân kiến: Khi năm uẩn bị nhận lầm là một tự ngã
    3. Nghi và giới cấm thủ: Khi hướng đi bị che lấp ngay trong việc tìm đường
    4. Dục tham và sân: Hai sự lôi kéo giữ tâm trong dục giới
    5. Sắc ái và vô sắc ái: Khi sự thanh cao vẫn còn có thể bị nắm giữ
    6. Mạn: Dấu vết của cảm nhận tôi là sau khi thân kiến đã đoạn
    7. Trạo cử và vô minh: Khi sự dao động còn nương vào điều chưa thấy rõ
    8. Thấy sự đoạn trừ đúng mức để không biến pháp hành thành một thước đo bản ngã
  62. 62Bảy tùy miênNhững khuynh hướng ngủ ngầm chờ đủ duyêntr. 1395
    8 tiểu mục
    1. Điều chưa khởi lên vẫn có thể là điều chưa được đoạn tận
    2. Dục tham tùy miên: Khi sự ưa thích vẫn có đường trở lại
    3. Sân tùy miên: Sức chống đối có thể còn sau khi cơn giận đã lắng
    4. Kiến tùy miên: Khi một cách nhìn sai còn có sức dẫn đường
    5. Nghi tùy miên: Khi con đường đã được nghe mà lòng vẫn chưa có chỗ đứng vững
    6. Mạn tùy miên: Dấu vết rất tế của cảm nhận tôi là
    7. Hữu tham tùy miên: Khi tâm còn muốn một cách hiện hữu để nương vào
    8. Vô minh tùy miên: Sự chưa thấy rõ khiến những khuynh hướng còn đường sinh khởi
  63. 63Bốn thức ănĐiều gì đang nuôi thân và dòng hiện hữutr. 1414
    8 tiểu mục
    1. Một đời sống được nuôi dưỡng bằng những điều kiện nào?
    2. Đoàn thực: Nuôi thân để sống, nhưng không nuôi thêm sự say đắm
    3. Xúc thực: Nơi thế giới trở thành điều được cảm nhận
    4. Tư niệm thực: Khi ý hướng trở thành điều kiện của sự tiếp diễn
    5. Thức thực: Sự nhận biết cũng nương những điều kiện để có mặt
    6. Không có người ăn thức thực đứng ngoài dòng Duyên khởi
    7. Khi tham ái tìm chỗ nương nơi bốn thức ăn
    8. Hiểu thức ăn để không tiếp tục nuôi điều làm khổ tái sinh
  64. 64Bốn vô lượng tâmTình thương không bị cái tôi thu hẹptr. 1433
    8 tiểu mục
    1. Khi lòng tốt còn phân chia người đáng được thương
    2. Từ tâm: Mong điều lành mà không đòi người khác thuộc về mình
    3. Bi tâm: Thấy khổ để chăm sóc, không để mình chìm trong khổ
    4. Hỷ tâm: Khi điều tốt đẹp của người khác không làm mình trở nên nhỏ lại
    5. Xả tâm: Giữ lòng thương sáng suốt trước điều mình không thể quyết định
    6. Vô lượng là mở rộng phạm vi thiện ý, không xóa bỏ sự phân biệt đúng sai
    7. Lòng thương có trí tuệ biết khi nào cần đến gần và khi nào phải dừng lại
    8. Một tâm rộng lớn vẫn cần được soi sáng bằng trí tuệ
  65. 65Bảy Thánh tàiCủa cải không mất khi hoàn cảnh đổi thaytr. 1452
    8 tiểu mục
    1. Khi chỗ nương của đời sống không chỉ là điều đang sở hữu
    2. Tín tài: Có một hướng đi đáng tin cậy giữa những điều chưa biết
    3. Giới tài: Giá trị của điều đã tự nguyện không làm
    4. Tàm tài và quý tài: Hai khả năng bảo hộ trước khi điều bất thiện được thực hiện
    5. Văn tài: Điều đã học trở thành chỗ nương khi được nhớ và hiểu đúng
    6. Thí tài: Khả năng buông lòng bỏn xẻn giữa những trách nhiệm phải chăm sóc
    7. Tuệ tài: Thấy sự sinh diệt để không bị hình thức của đời sống đánh lừa
    8. Bảy tài sản được gìn giữ trong những lựa chọn mà tiền bạc không thể thay thế
  66. PHẦN 10 · Nương tựa học pháp và buông chấp

    66Tam quy yNương tựa mà không trao đời mình cho niềm tin mù quángtr. 1471
    8 tiểu mục
    1. Khi tìm một chỗ nương, chúng ta đang muốn hiểu hay muốn được quyết định thay?
    2. Quy y Phật: Kính trọng một bậc giác ngộ mà không biến Ngài thành người quyết định số phận
    3. Quy y Pháp: Nương vào điều phải được thực hành, không chỉ vào lời được nghe
    4. Quy y Tăng: Kính trọng sự tu hành chân chánh mà không giao Chánh pháp cho riêng một cá nhân
    5. Lời phát nguyện quy y có giá trị khi đi vào cách sống
    6. Khi người được kính trọng mắc lỗi, chúng ta dựa vào điều gì để không lạc hướng?
    7. Quy y giữa khổ đau: Một hướng thực hành, không phải giấy bảo đảm tránh nghịch cảnh
    8. Nương tựa Tam bảo và tự mình thực hành là hai mặt của cùng một con đường
  67. 67Thiện tri thứcNgười bạn giúp con đường không lệch hướngtr. 1490
    8 tiểu mục
    1. Khi sự tán thành của người khác chưa chắc là điều có lợi cho chúng ta
    2. Người bạn lành nâng đỡ cả con đường, chứ không chỉ một lúc yếu lòng
    3. Nhìn người đáng học theo qua tín, giới, thí và tuệ
    4. Người dám chỉ điều cần sửa và cũng biết lắng nghe lời góp ý
    5. Bạn chân thật được nhận biết trong cách họ bảo vệ điều lành giữa đời sống
    6. Gặp thiện tri thức rồi, điều quyết định vẫn là chúng ta học theo được gì
    7. Khi quan hệ đổi khác, thiện ý vẫn cần đi cùng ranh giới và sự thật
    8. Trở thành thiện tri thức bằng cách không dẫn người khác rời xa điều chân chánh
  68. 68Đức tin đúngNiềm tin đi cùng kiểm chứng và trí tuệtr. 1508
    8 tiểu mục
    1. Sự chắc chắn trong lòng có thể đến trước sự hiểu biết
    2. Tin nơi sự giác ngộ để có hướng tu tập, nhưng không dừng ở sự tán thán
    3. Kiểm chứng điều thiện và bất thiện không chỉ bằng cảm giác mình thích
    4. Hộ trì chân lý: Biết nói rõ điều mình tin mà không tự nhận đã chứng biết
    5. Xem xét người hướng dẫn: Lòng kính trọng không đòi chúng ta bỏ qua những điều có thể thấy
    6. Từ tin tưởng đến tự thân thấy biết còn cả một tiến trình cần đi đúng
    7. Khi nghi vấn xuất hiện, điều cần biết là nó đang đưa tâm về đâu
    8. Niềm tin được soi sáng khi điều đã học trở thành điều tự mình thấy
  69. 69Học pháp và hành phápKhoảng cách giữa hiểu lời và sống được lờitr. 1527
    8 tiểu mục
    1. Lời dạy đã nhớ rõ, vì sao hành động vẫn đi theo hướng cũ?
    2. Nghe Chánh pháp để hiểu thêm, chứ không chỉ tìm cảm giác được an ủi
    3. Hiểu nghĩa lời Phật dạy khác với biết cách sử dụng lời ấy để tranh luận
    4. Như lý tác ý đưa điều đã hiểu tới đúng nơi pháp đang sinh khởi
    5. Hành pháp được nhận ra trong những lựa chọn có thể thực hiện
    6. Sống theo Pháp cần cả học hỏi lẫn sự tu tập nội tâm
    7. Nhìn sự tiến bộ qua điều đã thay đổi, không qua danh tiếng người học Pháp
    8. Học một điều cho sáng và sống với điều ấy qua những duyên đang có
  70. 70Chấp thủ vào phápKhi phương tiện giải thoát trở thành vật sở hữutr. 1546
    8 tiểu mục
    1. Một lời dạy giúp thấy rõ, rồi có thể trở thành điều để tự khẳng định
    2. Hiểu sai và nắm sai: Khi lời Phật được dùng để nuôi điều Ngài dạy phải từ bỏ
    3. Chấp vào quan điểm: Khi Chánh kiến bị nhận lầm thành quyền sở hữu chân lý
    4. Chấp vào phương pháp: Khi điều đang giúp tu tập trở thành khuôn bắt buộc cho tất cả
    5. Chấp vào kinh nghiệm tu tập: Khi một trạng thái đã qua trở thành điều phải tìm lại
    6. Chiếc bè được dùng để qua sông, chứ không phải để mang theo như tài sản
    7. Dấu hiệu của sự nắm giữ có thể xuất hiện ngay khi chúng ta nói về buông xả
    8. Học và sử dụng Chánh pháp mà không biến điều được học thành nơi nương của cái tôi
  71. 71Không chấp thủ Giới, Định, TuệĐi trọn con đường mà không dựng thêm cái tôitr. 1563
    8 tiểu mục
    1. Khi điều tốt được thực hành trở thành lý do để thấy mình hơn người
    2. Giới được gìn giữ để ngăn tổn hại, không để tạo một địa vị đạo đức
    3. Thanh tịnh giới là điều cần phát triển, nhưng chưa thể nhận làm cứu cánh
    4. Định làm tâm vững vàng, nhưng sự an lạc của định không phải một cái tôi mới
    5. Tuệ thấy đúng sự thật, không cần dựng một người sở hữu sự thật
    6. Những giai đoạn thanh tịnh được đi qua, không bị nhận làm điểm cuối
    7. Dù không còn nhận các uẩn là tự ngã, cảm nhận tôi là vẫn có thể chưa hết
    8. Đi trọn con đường mà không lấy sự thành tựu làm nơi dựng thêm bản ngã
  72. PHẦN 11 · Định tuệ và giải thoát

    72Thiền chỉ và Thiền quánHai mặt nâng đỡ một tâm thấy rõtr. 1582
    8 tiểu mục
    1. Tâm có thể yên xuống mà điều cần thấy vẫn chưa được thấy
    2. Thiền chỉ: Cho tâm điều kiện an trú mà không cưỡng ép các pháp phải biến mất
    3. Thiền quán: Thấy các pháp theo sự thật, không chỉ suy nghĩ về sự thật
    4. Chỉ và quán có thể nâng đỡ nhau mà không phải luôn theo một thứ tự cố định
    5. Sơ thiền và Nhị thiền: Sự viễn ly cùng sức an trú được làm cho sâu hơn
    6. Tam thiền và Tứ thiền: Khi hỷ lắng xuống, xả và niệm được thanh tịnh
    7. Trên cùng một con đường, an trú và quán sát cần được đặt đúng chỗ
    8. Một tâm thấy rõ được nâng đỡ bởi sự vững vàng và trí tuệ
  73. 73Định và TuệTĩnh lặng không tách khỏi cái thấy giải thoáttr. 1601
    8 tiểu mục
    1. Khi tâm đã lắng mà gốc của nỗi khổ vẫn chưa được thấy
    2. Chánh định là sự vững vàng có phương hướng, không chỉ khả năng tập trung
    3. Từ không hối tiếc đến cái thấy như thật: Sự an trú có những điều kiện nâng đỡ
    4. Khi sự tĩnh lặng trở thành nơi trú ẩn khỏi điều cần nhận biết
    5. Khi hiểu rất nhiều mà tâm chưa đủ vững để thấy điều đang diễn ra
    6. Nhìn các pháp ngay trong sự an trú: Bài học từ trí tuệ của Tôn giả Xá Lợi Phất
    7. Từ tri kiến như thật đến ly tham: Nơi sự hiểu biết có sức tháo gỡ
    8. Giữ tâm vững để nhìn thật, nhìn thật để không còn phải nắm giữ
  74. 74Ba cửa giải thoátVô thường, khổ và vô ngã mở vào sự buôngtr. 1620
    8 tiểu mục
    1. Ba điều tâm đòi hỏi ở thế giới, và ba sự thật cần được nhìn lại
    2. Quán vô thường: Thấy sự sinh diệt ngay nơi điều tâm muốn giữ
    3. Hướng về vô tướng: Không lấy dấu hiệu của pháp hữu vi làm chỗ chắc thật
    4. Quán khổ: Điều có thể đem lại niềm vui vẫn không đủ làm nơi nương tuyệt đối
    5. Hướng về vô nguyện: Thấy rõ điều không đáng tiếp tục khát cầu
    6. Quán vô ngã: Năm uẩn không thuộc một chủ nhân bất biến
    7. Hướng về không tánh: Trống vắng tự ngã không có nghĩa các pháp không hiện hữu
    8. Khi ba cái thấy cùng chín, sự buông không còn là một mệnh lệnh tự ép mình
  75. 75Bốn Thánh quảSự tháo mở các trói buộc trên con đườngtr. 1639
    8 tiểu mục
    1. Một Thánh quả được nhận biết qua điều đã đoạn trừ
    2. Mười kiết sử: Những trói buộc thô và tế không thể đánh đồng
    3. Dự lưu: Khi ba sự nhận lầm căn bản đã được tháo mở
    4. Nhất lai: Tham, sân, si được làm mỏng nhưng chưa phải đoạn tận
    5. Bất lai: Năm hạ phần kiết sử chấm dứt và ý nghĩa của sự không trở lại
    6. Năm thượng phần kiết sử: Những trói buộc vẫn còn sau khi dục tham và sân đã hết
    7. A-la-hán: Khi các lậu hoặc đã tận và gánh nặng được đặt xuống
    8. Bốn Thánh quả chỉ bốn mức tháo mở, không phải bốn danh phận để chiếm giữ
  76. 76Niết-bànSự tắt của tham, sân và sitr. 1658
    8 tiểu mục
    1. Khi một nỗi khát được thỏa mãn, nguyên nhân khổ vẫn có thể còn
    2. Tham diệt: Khi sự chiếm giữ không còn dẫn tâm đi tìm chỗ nương
    3. Sân diệt: Sự chấm dứt ác ý không làm trí tuệ mất khả năng ngăn điều hại
    4. Si diệt: Khi cái thấy sai không còn tiếp sức cho tham và sân
    5. Pháp vô vi: Không sinh, không do tạo tác mà vẫn được chỉ là cứu cánh
    6. Niết-bàn hữu dư y: Giải thoát có thể được chứng biết ngay trong đời sống này
    7. Niết-bàn vô dư y: Đừng đem cái tôi vào câu hỏi sau khi thân hoại
    8. Con đường đưa tới sự tắt khổ, không phải lời hứa về một thế giới vừa ý
  77. 77Ly thamKhi tâm không còn tìm mình trong điều được ưa thíchtr. 1677
    8 tiểu mục
    1. Điều được yêu thích bắt đầu mang tên của chúng ta từ lúc nào?
    2. Phải thấy cả vị ngọt lẫn nguy hiểm mới hiểu được sự xuất ly
    3. Từ một cảm giác dễ chịu đến người muốn giữ cảm giác ấy
    4. Nhàm chán do trí tuệ khác với một tâm đã mỏi mệt và muốn quay lưng
    5. Khi có một niềm an lạc khác, sự từ bỏ không còn là cuộc chiến với niềm vui
    6. Yêu thương mà không buộc người khác phải hoàn thành hình ảnh về mình
    7. Ly tham được nuôi bởi cái thấy đúng, không phải bởi một lần quyết tâm
    8. Khi điều được thích không còn phải trả lời câu hỏi chúng ta là ai
  78. 78Đoạn tận khổ đau hiện tạiTự do được kiểm chứng ngay nơi thân tâmtr. 1697
    8 tiểu mục
    1. Một ngày bình yên chưa trả lời hết về những trói buộc trong tâm
    2. Chánh pháp hiện thấy: Biết tham, sân, si khi chúng có mặt và khi chúng vắng mặt
    3. Mũi tên thứ hai: Khi thân chịu khổ mà tâm còn có thể không tạo thêm trói buộc
    4. Vắng mặt, chế ngự và đoạn tận: Ba tình huống có thể trông giống nhau
    5. Nhìn chủ ý trước hành động và nhận ra hậu quả sau khi hành động
    6. Đoạn trừ khổ đòi biết nhân nào cần thấy và điều kiện nào phải thay đổi
    7. Tự mình chứng biết không phải tự trao cho mình một danh hiệu giải thoát
    8. Tự do hiện tại được thấy nơi sự chấm dứt nhân khổ, không nơi lời hứa hết mọi cảm giác đau
  79. 79Người cư sĩSống giữa gia đình và xã hội mà không rời con đườngtr. 1716
    8 tiểu mục
    1. Ngôi nhà cũng là nơi những chủ ý được nuôi dưỡng
    2. Năm giới giữ cho sự gần gũi không trở thành nơi gây hại
    3. Làm ra của cải bằng cách nào cũng thuộc con đường
    4. Bổn phận trong gia đình cần được thực hiện bằng sự tôn trọng hai chiều
    5. Bố thí làm rộng lòng người, nhưng không được lấy phần cần bảo hộ để chứng tỏ mình rộng rãi
    6. Thiện tri thức giúp người tại gia không bị cuốn theo chuẩn mực của đám đông
    7. Tu tập tâm giữa việc nhà: Có thời gian riêng nhưng không đợi đời sống hoàn toàn yên lặng
    8. Một đời sống tại gia có thể có hướng giải thoát mà không phủ nhận những điều đang phải chăm sóc
  80. 80Duyên khởi, Trung đạo và giải thoátKhi toàn bộ giáo pháp quy về một cái thấytr. 1735
    8 tiểu mục
    1. Điều làm chúng ta khổ có thể đang được tiếp sức ngay khi chưa nhận ra
    2. Duyên khởi không có một người chủ đứng ngoài các điều kiện
    3. Trung đạo của cái thấy không dừng ở việc đứng giữa hai ý kiến
    4. Xúc và thọ có mặt, nhưng ái không phải một mệnh lệnh buộc phải theo
    5. Từ ái đến thủ, hữu và sinh: Sự tiếp diễn không dừng ở một cảm xúc
    6. Vô minh diệt, hành diệt: Chiều sâu thật sự của lời dạy về đoạn khổ
    7. Con đường cũng có những điều kiện: Từ khổ được nhận biết đến trí tuệ giải thoát
    8. Do cái này diệt, cái kia diệt: Chiều cuối cùng của cái thấy giải thoát

Phụ lục và tư liệu

  1. Thuật ngữ đối chiếutr. 1755
  2. Nguồn kinh nền tảngtr. 1787

Số trang theo mục lục bản in của tác giả. Vị trí trang bên trong mỗi chương là ước tính để đối chiếu.