CHƯƠNG 71
Không chấp thủ Giới, Định, Tuệ
Đi trọn con đường mà không dựng thêm cái tôi
Khi điều tốt được thực hành trở thành lý do để thấy mình hơn người#
Một việc ngay thẳng vừa được thực hiện, lòng chúng ta có thể nhẹ nhõm vì đã không làm điều trái với lương tâm. Nhưng đôi khi, ngay sau sự nhẹ nhõm ấy, một ý nghĩ khác lặng lẽ xuất hiện. Chúng ta nhớ tới người từng hành động khác mình rồi cảm thấy bản thân đáng trọng hơn họ. Việc thiện ban đầu vẫn có giá trị. Điều cần được nhận ra là tâm đã bắt đầu sử dụng việc ấy để so sánh và xác lập một vị trí cho mình.
Sự chuyển động này rất đáng quan sát trong đời sống tu hành. Người học giới có thể trân trọng những điều mình đã gìn giữ. Người hành thiền có thể nhận biết tâm đang an trú vững hơn trước. Người học pháp có thể hiểu rõ một chỗ từng gây nghi vấn. Tất cả đều là những kết quả có ý nghĩa khi được phát triển đúng. Nhưng ngay tại các kết quả ấy, lòng tự mãn có thể xen vào nếu chúng ta xem mình là người sở hữu một phẩm chất đáng dùng để phân định cao thấp.
Đức Phật chỉ dạy Giới, Định và Tuệ như những phương diện trọng yếu của con đường . Giới bảo hộ hành vi và làm nền cho đời sống không buông lung. Định giúp tâm được an trú, có khả năng vững vàng trước sự tán loạn. Tuệ thấy đúng các pháp, nhận ra khổ cùng con đường đoạn khổ. Ba phương diện ấy cần được học và trưởng dưỡng, không có điều nào phải bị loại bỏ chỉ vì tâm còn khả năng chấp trước.
Tuy nhiên, một phẩm chất thiện và sự nắm giữ phẩm chất ấy là những điều cần phân biệt. Giữ giới khiến chúng ta tránh được hành vi gây hại, còn ý nghĩ mình cao quý hơn mọi người có thể mang tính chất . Định được phát triển trong sự , nhưng lòng mong người khác thừa nhận thành tựu lại thuộc hướng khác. Sự hiểu biết đúng giúp tháo gỡ , song thái độ xem thường người chưa hiểu có thể tiếp tục nuôi những pháp bất thiện.
Trong lời Đức Phật về , người tu không lấy gia thế, danh tiếng, sự nghe nhiều hoặc khổ hạnh làm lý do khen mình chê người. Ngay cả khi nói tới những chứng đắc thiền định, Ngài vẫn chỉ rõ sự nguy hại của việc dùng thành tựu để nâng mình lên và hạ người khác xuống. Điểm đáng chú ý là lời kinh không vì thế mà phủ nhận các công phu chân chánh. Nó giúp chúng ta nhận ra phương hướng đúng của việc tu tập nằm ở sự đoạn giảm tham, sân và si.
Đối với người mới học, việc vui vì đã giữ được một có thể là sự khích lệ cần thiết. Sau thời gian thường nói lời nóng nảy, chúng ta dừng được một lời gây tổn thương. Niềm vui ấy không tự trở thành ngã mạn. Nhưng nếu từ đây tâm muốn được xem là người đã hết sân, chúng ta cần nhận ra sự tự nhận đang vượt quá điều được thực hiện. Sự thành thật giúp công phu được trân trọng mà không bị phóng đại thành một hình ảnh hoàn hảo.
Chúng ta cũng không nên vì sợ chấp thủ mà từ chối mọi sự đánh giá về tiến bộ. Nếu một thói quen xấu đã yếu đi, điều ấy cần được nhận biết để tiếp tục tu tập. Nếu một phương pháp hỗ trợ , chúng ta có lý do gìn giữ nó. Sự biết đúng mức khác với việc muốn có một danh phận nhờ thành tựu. Một bên giúp tiếp tục, bên kia có thể khiến tâm dành nhiều sức để bảo vệ hình ảnh của chính mình.
Bởi vậy, vấn đề sâu của bài học không nằm ở việc có Giới, Định hay Tuệ là đáng nghi. Điều cần xem xét là khi những pháp ấy được thực hành, chúng ta có đang đưa thêm một ý niệm về người sở hữu vào hay không. Nếu việc tu tập đang củng cố điều cần được buông bỏ, người học phải nhận biết chỗ lệch ấy. Con đường chân chánh vẫn cần được tiếp tục.
Giới được gìn giữ để ngăn tổn hại, không để tạo một địa vị đạo đức#
Giữ một lời hứa đã nhận đôi khi đòi chúng ta chịu phần bất tiện mà người khác không nhìn thấy. Có những việc thiếu ngay thẳng có thể đem lại lợi ích nhanh, nhưng người học giới chọn không thực hiện. Sự tự chế ấy có giá trị ngay nơi tổn hại được ngăn lại. Nó không cần người khác biết đến mới thành điều thiện. Nhưng sau một thời gian, nếu chúng ta bắt đầu mong mọi người nhìn nhận mình là người giữ giới nghiêm túc, một động lực khác có thể chen vào sự gìn giữ ban đầu.
Giới là những điều học về thân và lời nói, có liên hệ đến chủ ý và trách nhiệm đối với hành động. Đối với người , việc tránh , trộm cắp, tà hạnh, và các chất say gây phóng dật bảo vệ những phương diện rất cụ thể. Đối với người , giới luật còn quy định một đời sống với những bổn phận riêng. Các điều học cần được hiểu đúng phạm vi, không thể lấy hình thức của một nếp sống áp lên mọi người mà bỏ qua điều kiện và giới phận khác nhau.
Khi giữ giới chân chánh, người tu biết điều nào không nên thực hiện vì sẽ đưa tới bất thiện. Lòng giúp chúng ta không thản nhiên trước điều sai. Sự cẩn trọng ấy cần được phát triển, bởi đời sống vẫn có những sức ép từ lợi ích và cảm xúc. Không chấp thủ Giới vì vậy không có nghĩa hạ thấp giới hạnh, bỏ việc nhận lỗi hoặc tùy tiện làm điều mình thích. Nếu mất sự phân biệt về hành vi, con đường sẽ thiếu một nền tảng thiết yếu.
Điều đáng chú ý là giới hạnh dễ trở thành đối tượng của sự so sánh. Chúng ta biết mình đã từ bỏ một hành vi, rồi nhìn người khác vẫn đang mắc vào điều ấy. Nếu có lòng thương và hiểu biết, chúng ta có thể thấy họ cần điều kiện để học và sửa. Nhưng nếu tâm muốn dùng sự thiếu sót ấy làm chứng cứ rằng mình thanh cao hơn, giới đã bị kéo vào một cuộc tự đánh giá. Công đức của sự tự chế không xóa việc ngã mạn có thể đang sinh khởi bên cạnh nó.
Cũng có sự dính mắc kín đáo với hình ảnh người chưa từng phạm lỗi. Khi một lỗi lầm thực sự xảy ra, chúng ta sợ thừa nhận vì không muốn danh tiếng bị tổn hại. Người giữ giới lúc này cần thành thật hơn nữa. Nếu đã làm điều sai, việc thích hợp là nhận biết, ngừng hành vi, khắc phục hậu quả và tiếp tục học. Giữ một hình ảnh trong sạch bằng sự che giấu sẽ đi ngược ý nghĩa chân chánh của giới. Điều cần bảo vệ là phẩm hạnh, không phải danh tiếng của một cái tôi không được phép có thiếu sót.
Tuy nhiên, không nên vì lời cảnh tỉnh ấy mà xem người giữ giới cẩn thận là kẻ đang chấp. Có người chọn tránh môi trường dễ đưa mình tới buông lung, hoặc từ chối một lợi ích trái đạo đức. Những lựa chọn có thể rất kiên quyết và vẫn hoàn toàn thích hợp. Chúng ta không thể đánh giá sự chấp thủ chỉ qua mức độ nghiêm túc bên ngoài. Cần xét hiểu biết và ý hướng đang hướng dẫn việc làm, đồng thời thừa nhận người ngoài không thể biết trọn tâm của người khác.
Một ranh giới nữa cần được giữ là sự khác biệt giữa giới hạnh và . Trong giáo lý về bốn thủ, giới cấm thủ liên hệ tới sự nắm giữ sai lầm đối với các giới điều và nghi thức. Nó không phải tên gọi dành cho mọi người giữ giới nghiêm chỉnh. Chấp một hình thức tuân thủ như tự nó đủ đem lại thanh tịnh rốt ráo khác với việc thực hành giới trong . Sự phân biệt này giúp người học không sử dụng lời dạy về vô chấp để bác bỏ những điều Đức Phật đã chỉ dạy phải gìn giữ.
Giới còn có giá trị đối với những người cùng sống. Khi không cố ý gây hại, người thực hành tạo thêm điều kiện cho sự an ổn chung. Giá trị ấy không mất vì chúng ta không đem nó ra kể. Một sự giữ giới lặng lẽ vẫn giúp người khác khỏi chịu một tổn hại có thể tránh. Người tu có thể tiếp tục chăm sóc giới hạnh bằng sự nghiêm túc và lòng không hại, không cần biến giới thành chiếc thước đo xem mình đứng trên ai.
Thanh tịnh giới là điều cần phát triển, nhưng chưa thể nhận làm cứu cánh#
Điều gì sẽ xảy ra nếu một người đã gìn giữ giới hạnh bền bỉ rồi nghĩ rằng việc tu tập của mình không còn gì quan trọng để thực hiện? Tâm có thể yên ổn vì ít phải hối tiếc những điều bất thiện. Người ấy có cơ sở vui trước sự tự chế đã được phát triển. Nhưng nếu từ sự trong sạch về hành vi mà kết luận khổ đã được , một thành quả chân chánh đang bị hiểu vượt quá phạm vi của nó.
Đức Phật từng dùng hình ảnh người đi tìm lõi cây để làm sáng vấn đề ấy. Có người lên đường vì muốn tìm lõi, nhưng khi thấy cành lá lại mang về và tưởng mình đã có điều cần tìm. Có người tiến sâu hơn, lấy được vỏ ngoài hoặc vỏ trong rồi dừng lại. Những vật ấy thực sự thuộc về cây, song chưa phải lõi. Qua hình ảnh này, Đức Phật chỉ rõ người tu có thể dừng ở lợi dưỡng, giới đức, định hoặc tri kiến. Khi ấy, mục đích phạm hạnh vẫn chưa thành tựu.
Lời dạy không làm giới mất giá trị. Người đã thực hành giới chân chánh có những phẩm chất đáng quý, nhưng điều đó chưa có nghĩa mọi đã hết. Chúng ta cần phân biệt giá trị thực của một thành tựu với kết luận về mục đích cuối cùng. Nhìn một pháp đúng chức năng giúp người học biết quý trọng nó. Còn biến pháp ấy thành cứu cánh khi chưa đến nơi sẽ khiến sự dễ dừng lại quá sớm.
Sự tự mãn về giới có thể tạo ra những hậu quả khác. Khi được người khác kính trọng vì sống ngay thẳng, tâm bắt đầu muốn giữ sự kính trọng ấy. Lời góp ý có căn cứ cũng trở nên khó tiếp nhận. Nếu một người yếu sức cần hỗ trợ để giữ giới, chúng ta lại dễ coi họ là kẻ không đủ quyết tâm. Những phản ứng ấy cho thấy ngã mạn có thể xuất hiện ngay trong đời sống đã có nhiều cố gắng thiện lành. Thấy điều ấy là để điều chỉnh hướng tu, không để tự khinh miệt công phu đã qua.
Đối với người cư sĩ, sự giữ giới có thể đem lại niềm tin nơi hành vi của mình, giảm những mối lo do làm điều bất chính và bảo hộ các quan hệ. Nhưng thân vẫn có thể bệnh, tài sản vẫn có thể hao hụt, và những cảm thọ khó chịu vẫn sinh theo duyên. Nếu mong sự giữ giới phải xóa hết những điều ấy, người học đã đòi ở giới một công dụng vượt phạm vi. Đức Phật dạy giới trong con đường đoạn khổ, không như một sự bảo đảm rằng mọi kinh nghiệm hiện tại sẽ đều thuận ý.
Có người khi hiểu rằng giới chưa phải cứu cánh lại muốn bỏ bớt những điều học. Nhưng sự chưa đủ của một phương diện không khiến nó trở thành thừa. Một thân thể cần dinh dưỡng dù việc ăn không thể giải quyết mọi khó khăn trong đời. Tương tự, đời sống phạm hạnh cần giới làm nền cho những sự tu tập sâu hơn. Chúng ta không thể lấy mục tiêu cuối cùng để phủ nhận những điều kiện phải được trưởng dưỡng trên đường đi tới đó.
Trong lời dạy về người chân nhân, Đức Phật nhấn mạnh chính việc hành trì đúng pháp và thuận pháp mới đáng được tôn trọng. Điều ấy đưa sự chú ý trở về hướng đi của công phu. Giới không được thực hành chỉ để một người có danh tiếng thanh tịnh, rồi nhìn người khác như kém giá trị. Người tu giữ giới vì những điều bất thiện cần được đoạn giảm, đồng thời tiếp tục học cách phát triển sự an trú và trí tuệ tương ứng. Giá trị của giới không bị mất khi chúng ta không lấy nó làm địa vị của mình.
Một sự thực hành đúng có thể đem lại cả lòng biết ơn và tinh tấn. Chúng ta biết ơn những điều kiện giúp mình tránh tổn hại, nhưng cũng nhận ra những chỗ tham sân si chưa được đoạn tận. Việc còn phải đi tiếp không làm giai đoạn đã qua vô ích. Nó chỉ giúp chúng ta không dừng lại và tự gọi một thành tựu giữa đường là kết quả cuối cùng.
Định làm tâm vững vàng, nhưng sự an lạc của định không phải một cái tôi mới#
Sự an tĩnh sau một thời gian tâm dao động có thể đem lại niềm vui khó diễn tả. Khi những suy nghĩ gây xao động tạm lắng, người tu cảm nhận một khả năng an trú trước đây chưa rõ. Công phu đã thực hiện có ý nghĩa, và sự an lạc ấy đáng được nhận biết theo đúng tính chất của nó. Nhưng nếu tâm lập tức nghĩ rằng mình đã trở thành một người đặc biệt nhờ trạng thái ấy, việc an trú đang có nguy cơ trở thành đối tượng cho sự nắm giữ.
Định được Đức Phật giảng như một phương diện cần tu tập của con đường. Sự chân chánh có những điều kiện hỗ trợ, trong đó , và Chánh niệm giữ vai trò quan trọng. Người học không nên hiểu định chỉ là khả năng khiến tâm trống rỗng, hoặc giữ một cảm giác dễ chịu càng lâu càng tốt. Định trong được phát triển để tâm có đủ sự vững vàng và trong sáng phục vụ việc đoạn trừ khổ. Nó có công dụng riêng, không thể được thay bằng lời nói về vô chấp.
Trong lời Đức Phật về các tầng thiền, có những sự an lạc do viễn ly và do định sinh khởi, rồi những trạng thái tâm ngày càng được an trú sâu. Đây là những thành tựu có điều kiện và có phạm vi xác định. Người chưa đạt không nên tự gán tên một tầng vì có lúc yên tĩnh. Người đã có sự an trú thật sự cũng cần nhận ra trạng thái ấy không phải một chủ thể cố định, đứng ngoài . Công phu có kết quả, nhưng kết quả không khiến các trở thành bất biến.
Trong lời dạy về người chân nhân, Đức Phật còn đề cập người đạt những tầng thiền nhưng vì thế mà khen mình chê người. Người chân nhân không sử dụng chứng đắc để dựng một địa vị cao hơn. Đáng chú ý là lời kinh đi sâu đến các tầng định rất vi tế rồi vẫn nhắc việc không tưởng tượng, không nắm giữ và không tự mãn. Sự an trú càng sâu không tự nó cho phép chúng ta bỏ qua lòng tham đối với chính sự an trú ấy.
Một chỗ chấp dễ nhận là sự mong đợi lặp lại đúng cảm giác từng có. Lần ngồi trước tâm an lạc, lần này tâm tán loạn và thân khó chịu. Chúng ta có thể bực tức vì nghĩ công phu đã mất. Nhưng sự tán loạn hiện tại cần được nhận biết theo những điều kiện đang có, không chỉ so sánh với ký ức. Người tu cần tiếp tục pháp hành thích hợp, đồng thời không bắt mọi thời khóa phải đem lại cùng một kinh nghiệm. Lòng đòi hỏi có thể khiến việc hành thiền rời khỏi sự quán sát chân thật.
Tuy nhiên, không nên biến thái độ không chấp định thành sự thiếu chăm sóc định. Nếu luôn bỏ thời khóa khi tâm khó tập trung rồi gọi đó là buông xả, người học có thể đang tránh điều cần được rèn luyện. Định đòi sự tinh tấn, phòng hộ các căn và tạo điều kiện thích hợp cho việc an trú. Khi có bệnh hoặc trách nhiệm cấp thiết, sự điều chỉnh là cần thiết. Nhưng việc điều chỉnh phải được xét theo hoàn cảnh chân chánh, không biến thành lý do tùy tiện buông lung.
Sự trầm tĩnh bên ngoài cũng chưa đủ để xác định mức độ định hoặc của một người. Có người ít nói vì mệt mỏi, có người giữ vẻ bình thản vì không muốn lộ cảm xúc. Những trạng thái ấy khác với công phu định được tu tập đúng pháp. Ngay cả khi một người thật sự có định, chúng ta vẫn chưa biết các của họ đã đoạn tận đến đâu. Không nên tự đánh giá hoặc đánh giá người khác chỉ qua vẻ yên tĩnh trong một thời điểm.
Định có thể được tiếp tục nuôi dưỡng bằng sự quý trọng đúng mức. Khi tâm an trú, chúng ta biết các điều kiện đã hỗ trợ sự an trú ấy. Khi bị dao động, người học trở lại phương pháp cần thiết. Nếu có niềm vui trong định, điều ấy được nhận biết mà không phải bị xua đuổi vì sợ chấp. Nhưng không cần xem niềm vui ấy là bằng chứng rằng mình đã đến đích. Sự vững vàng của tâm có giá trị trong con đường khi nó được sử dụng để hỗ trợ trí tuệ và sự đoạn giảm các pháp bất thiện.
Tuệ thấy đúng sự thật, không cần dựng một người sở hữu sự thật#
Sự hiểu biết có thể khiến một điều từng rất khó trở nên sáng rõ. Chúng ta nhận ra rằng cảm thọ không phải mệnh lệnh buộc mình phải chạy theo, hoặc một ý muốn có thể được nhìn thấy trước khi thành hành động. Những nhận biết ấy đem lại giá trị thật cho pháp hành. Nhưng cùng lúc, tâm có thể sinh ý nghĩ mình đã nhìn thấu người khác và ít còn điều phải học. Chính ở đây, trí tuệ đang được thực hiện có nguy cơ bị bao phủ bởi một hình ảnh về người có trí tuệ.
Tuệ trong Chánh pháp phải được hiểu theo công dụng thấy biết chân chánh. Người học phân biệt và Chánh kiến, biết các pháp bất thiện cần từ bỏ và những điều kiện thiện đáng được phát triển. Trên con đường sâu hơn, trí tuệ nhận biết khổ, nguyên nhân của khổ, sự đoạn diệt và con đường đưa đến đoạn diệt. Những chức năng ấy không được thay bằng khả năng nhớ thuật ngữ hoặc nói những điều người khác cho là sâu sắc. Trí tuệ cần được học và tu tập để tháo gỡ vô minh.
Khi chưa hiểu một pháp, chúng ta có thể cần lắng nghe, suy xét và hỏi người có trí. Sau khi hiểu, điều ấy cần được đem vào quán sát thích hợp. Nhưng nếu nhờ học một phần mà tự nhận mọi phán đoán của mình đều đúng, tâm đã vượt quá căn cứ thực có. Sự thành thật đối với giới hạn tri kiến không làm trí tuệ suy giảm. Nó giúp người học tránh lấy điều đã biết làm vật cản đối với những điều còn phải thấy rõ.
Một chỗ dễ lẫn là việc trân trọng Chánh kiến với sự nắm giữ quan điểm. Đức Phật dạy Chánh kiến đi trước trên Thánh đạo, vì người tu cần nhận ra tà kiến là tà kiến và Chánh kiến là Chánh kiến. Bỏ sự phân biệt ấy không khiến vô minh tự chấm dứt. Nhưng Chánh kiến cũng không được nuôi bằng ý muốn khẳng định mình hơn người. Chúng ta có thể giải thích điều đúng và sửa một nhận định sai, đồng thời không xem sự thắng thua trong tranh luận là mục đích của việc học.
Sự chấp trí tuệ còn xuất hiện khi người tu lấy một kinh nghiệm sáng rõ làm chứng cứ mình đã đoạn tận mọi lậu hoặc. Có khi sự tập trung giúp thấy một hiện tượng rất rõ, nhưng những khuynh hướng chấp ngã vẫn chưa được đoạn trừ. Sự thấy ấy đáng được nhận biết theo mức độ đã thực hiện. Nếu gọi nó là trí trong khi chưa có căn cứ, chúng ta sẽ khó nhận ra điều còn đang trói buộc. Thái độ đúng là trân trọng kết quả và tiếp tục thực hành, không cần tự trao cho mình một địa vị.
Việc thấy cũng đòi sự chính xác ấy. Chúng ta học rằng không nên được xem là tự ngã thường hằng hoặc vật thuộc quyền sở hữu tuyệt đối. Nhưng chỉ nói đúng chữ vô ngã chưa có nghĩa các khuynh hướng ngã mạn đã hết. Nếu dùng lời dạy ấy để khinh người khác là còn có cái tôi, sự so sánh vẫn có thể đang vận hành. Cái thấy chân chánh phải giúp nhận biết sự nắm giữ ngay nơi tâm mình, không chỉ cung cấp từ ngữ để phê bình sự chấp trước của người khác.
Trí tuệ có thể biểu hiện trong cách chúng ta nhìn một khó khăn chưa được giải quyết. Người tu biết một cảm giác khổ có nguyên nhân, nhưng không vì thế mà xem thường người đang đau bệnh. Biết một hành vi bất thiện có thể đem lại hậu quả, song không vội quy mọi mất mát của người khác về nghiệp quá khứ. Cái thấy đúng khiến sự xét biết thận trọng hơn, bởi người học biết các pháp có phạm vi và điều kiện riêng. Sự vội vàng kết luận chỉ cho thấy còn những chỗ cần sáng tỏ.
Người có tuệ chưa chắc có nhu cầu làm người khác thấy mình đặc biệt. Khi gặp câu hỏi chưa rõ, chúng ta có thể nói mình chưa đủ căn cứ. Khi được chỉ ra sai lầm, việc sửa lại là điều phù hợp với mục đích học Pháp. Càng thấy rõ những pháp đang sinh diệt, tâm càng có điều kiện không nhận lầm chúng là một chỗ dựa bất biến. Giá trị của trí tuệ nằm ở sự giảm vô minh và chấp thủ, chứ không cần thêm một người sở hữu chân lý đứng phía sau sự hiểu biết ấy.
Những giai đoạn thanh tịnh được đi qua, không bị nhận làm điểm cuối#
Một việc được làm tốt có thể đem lại cảm giác đã hoàn tất, dù thật ra nó mới chỉ mở điều kiện cho công việc tiếp theo. Trong tu tập, sự thanh tịnh của giới có thể khiến đời sống bớt nhiều điều phải hối tiếc. Tâm được an trú có thể đem lại niềm vui ít lệ thuộc hơn vào dục. Sự hiểu biết sâu hơn lại tháo một số nghi vấn từng khiến người học dao động. Nhưng giá trị của những thành tựu ấy không cho phép chúng ta đồng nhất chúng với toàn bộ mục đích phạm hạnh.
Trong một cuộc đàm luận giữa hai vị đại đệ tử, những giai đoạn thanh tịnh đã được đem ra xem xét. Giới thanh tịnh, tâm thanh tịnh, kiến thanh tịnh cùng những sự thanh tịnh về tri kiến được nêu lên lần lượt. Khi được hỏi liệu một giai đoạn riêng lẻ có phải cứu cánh, câu trả lời đều không. Nhưng khi hỏi mục đích cuối cùng có tách rời các sự thanh tịnh ấy hay không, câu trả lời cũng không. Điều ấy bảo vệ một ý nghĩa rất sâu của con đường.
Nếu xem sự thanh tịnh của một giai đoạn là vô thủ trước, chúng ta đã nhận phương tiện làm cứu cánh. Nhưng nếu cho rằng mục đích ấy hoàn toàn không cần những điều kiện tu tập, người chưa tu hành cũng phải được xem là đã đến nơi. Hai cách hiểu đều không phù hợp. Những sự thanh tịnh có công dụng dẫn tiếp đến những điều kiện cần thiết, trong khi cứu cánh không thể được đồng nhất với bất cứ chặng trung gian nào.
Lời kinh dùng hình ảnh những cỗ xe tiếp vận để làm sáng mối quan hệ ấy. Người cần đi xa nương từng cỗ xe để tới chặng tiếp theo, rồi tiếp tục cho đến nơi cần đến. Không phải chỉ một cỗ xe thực hiện toàn bộ hành trình. Nhưng cũng không thể bỏ mọi cỗ xe rồi cho rằng mình đã tới đích. Hình ảnh này không nhằm biến sự tu tập thành cuộc thi vượt cấp. Nó chỉ ra vì sao cần tôn trọng từng điều kiện, đồng thời không dừng lại vì đã hài lòng với một thành tựu giữa đường.
Khi lời dạy này được đem vào đời sống, chúng ta có thể thấy ý nghĩa rất thực tế. Người mới giữ giới cần trân trọng sự tự chế đã có, rồi học cách không nuôi hối tiếc và phóng dật. Khi tâm có định, việc quán sát các pháp vẫn cần được phát triển. Khi hiểu đúng một pháp, người học tiếp tục nhận biết những chỗ vô minh còn chi phối. Nhưng không nên dựng một bảng thứ hạng rồi tự gán mình vào một giai đoạn thanh tịnh chưa được chứng biết. Pháp hành cần căn cứ vào điều đang có thật.
Một hiểu lầm khác là cho rằng đã buông chấp thì mọi giai đoạn đều không còn ý nghĩa. Nếu vậy, người tu có thể xem nhẹ giới, thiếu chăm sóc định và ít nỗ lực phát triển trí tuệ. Sự buông bỏ ấy thực ra có nguy cơ bỏ mất những điều kiện của con đường. Đức Phật chỉ dạy từng pháp vì công dụng riêng, và việc đoạn tận tham ái không thể được thay bằng lời tuyên bố rằng chẳng còn gì cần làm. Chừng nào việc tu tập chưa hoàn tất, những pháp cần được học vẫn phải được thực hành.
Ngược lại, sự cố chấp về tiến trình cũng có thể làm người tu nặng lòng. Chúng ta đòi mình phải đạt một trạng thái định nhất định trước khi làm bất kỳ việc thiện nào khác, hoặc chỉ muốn biết mình đang ở tầng bậc nào. Sự nóng vội về kết quả dễ che lấp đối tượng cần nhận biết trong hiện tại. Người học nên tìm sự hướng dẫn đáng tin, thực hành các điều kiện thích hợp và giữ sự thành thật về giới hạn. Điều đúng cần được làm cho vững, không nhất thiết phải lập tức được đặt tên thành một thành tựu.
Các giai đoạn thanh tịnh vì vậy không được giảng để tạo thêm một danh phận. Chúng giúp chúng ta hiểu rằng điều được phát triển có khả năng nâng đỡ điều cần phát triển tiếp. Niềm vui vì một bước tiến có thể có mặt, nhưng không cần trở thành chỗ dừng. Khi mục đích phạm hạnh được giữ sáng rõ, người tu ít phải dùng kết quả để xác lập mình là ai. Công phu có thể tiếp tục theo hướng đoạn tận khổ.
Dù không còn nhận các uẩn là tự ngã, cảm nhận tôi là vẫn có thể chưa hết#
Một người có thể hiểu rất rõ rằng thân đang thay đổi và cảm thọ không thể giữ theo ý mình. Họ cũng có thể biết những suy nghĩ và kinh nghiệm nhận thức đều sinh khởi theo điều kiện. Nhưng sự hiểu biết ấy chưa đủ để chúng ta kết luận mọi sức nắm giữ quanh cảm nhận tôi là đã được đoạn tận. Có những phiền não thô được nhận ra dễ dàng, trong khi ngã mạn có thể còn hiện diện rất tế ngay khi những quan điểm sai rõ rệt đã suy yếu.
Một vị trưởng lão trong kinh đã giải thích sự phân biệt này từ chính mức độ tu tập của mình. Vị ấy không còn xem sắc, thọ, tưởng, hành hay thức là tự ngã hoặc của tự ngã. Tuy vậy, vị ấy thành thật nói cảm nhận tôi là liên hệ đến năm uẩn vẫn chưa hoàn toàn được đoạn trừ. Cách nói ấy cho thấy đoạn tận và đoạn tận ngã mạn không phải hai điều có thể đồng nhất. Người tu cần nhận biết mức độ rất khác nhau của các pháp đang được từ bỏ.
Đối với việc tu Giới, Định, Tuệ, điều này mở ra một sự quán sát sâu hơn những biểu hiện tự cao dễ thấy. Lòng mạn không chỉ xuất hiện lúc chúng ta công khai khen mình và chê người. Nó có thể còn là cảm giác âm thầm rằng chính mình là người đang nắm giữ sự trong sạch, là người đã đạt an lạc, là người thấy rõ hơn người khác. Những cảm nhận ấy cần được quan sát theo đúng tính chất của chúng, chứ không vội biến thành lời kết luận về chứng quả.
Tuy nhiên, không nên hiểu mọi lần sử dụng chữ tôi đều là ngã mạn. Trong giao tiếp, chúng ta vẫn cần nói tôi đã làm việc này, tôi sẽ sửa lỗi ấy hoặc tôi chưa hiểu điều được hỏi. Những lời quy ước ấy giúp xác định trách nhiệm, không tự chúng tạo thành một tà kiến thường hằng. Điều quan trọng là sức chấp giữ nơi tâm, không phải cố thay mọi đại từ bằng một lối nói xa lạ. Giáo lý vô ngã không phủ nhận con người trong phạm vi quy ước và đạo đức.
Cũng cần tránh một thái độ cố giám sát mọi ý nghĩ để tìm bằng được dấu vết ngã mạn. Người còn đang tu tập có thể khởi một cảm giác vui trước điều thiện đã làm. Nếu lập tức tự ghét vì nghĩ mình còn cái tôi, tâm có thể thêm đối với chính mình. Sự quán sát đúng bắt đầu từ việc thấy pháp đang có mặt và ý hướng tiếp theo. Nếu tự cao xuất hiện, người học có thể không nuôi dưỡng nó, đồng thời giữ lại giá trị của đã được thực hiện.
Trong lời dạy về ngã mạn vi tế, vị trưởng lão chỉ ra việc tiếp tục quán năm uẩn theo sự sinh khởi và đoạn diệt. Nhận biết đúng các pháp đang hình thành rồi mất đi khiến cảm nhận tôi là không còn cơ sở được nuôi dưỡng như trước. Việc quán sát này đòi trí tuệ tu tập, không thể thay bằng việc chỉ nói các uẩn đều vô ngã. Sự khác biệt giữa một câu trả lời chính xác và cái thấy trực tiếp cần được giữ rõ ràng đến tận đây.
Người đã có thành tựu đáng quý cũng cần hiểu rằng sự đoạn tận những trói buộc còn lại không thể được suy ra từ danh tiếng hoặc cảm giác an ổn. Chúng ta không nên đánh giá những người khác bằng thái độ tự phong cấp bậc. Nhưng cũng không vì không thể biết hết mà phủ nhận sự khác nhau giữa các chứng đắc được Đức Phật xác nhận. Điều chân chánh là học đúng tiêu chuẩn của giáo pháp, tu tập tương ứng và không tuyên bố điều mình chưa chứng biết.
Ở tầng sâu này, sự không chấp thủ Giới, Định, Tuệ không chỉ là bớt khoe khoang công phu. Nó hướng đến cái thấy không còn lấy những pháp hữu vi làm tự ngã hoặc chỗ nương cho ngã mạn. Chúng ta thực hành các pháp cần thực hành, nhưng không thêm một chủ thể bất biến đang sở hữu chúng. Sự quán sát tiến sâu theo mức trí tuệ thật sự được phát triển, không nhờ một lời tuyên bố rằng mình đã hoàn toàn không còn cái tôi.
Đi trọn con đường mà không lấy sự thành tựu làm nơi dựng thêm bản ngã#
Khi chưa biết giữ giới, chúng ta cần học điều gì phải từ bỏ. Khi tâm thường tán loạn, những điều kiện nuôi dưỡng định cần được chăm sóc. Khi còn hiểu sai các pháp, việc nghe học và quán sát để phát triển trí tuệ vẫn rất cần thiết. Những công việc ấy không biến thành chấp thủ chỉ vì người học thực hiện chúng nghiêm túc. Điều đáng xét là chúng ta có đang sử dụng pháp hành để đoạn giảm phiền não, hay đang tìm một hình ảnh đáng tự hào về người tu tập.
Giới được gìn giữ đúng khi nó bảo hộ thân, lời nói và những người có thể chịu ảnh hưởng từ hành động của mình. Nếu giới hạnh tăng trưởng, người tu có cơ sở vui với việc tránh điều bất thiện. Nhưng khi tâm lấy sự trong sạch để xem thường người đang gặp khó, sự tự mãn cần được nhận ra. Chúng ta vẫn có thể nhắc người khác về giới bằng sự chân thật, không phải hạ thấp họ để giữ giá trị của mình.
Định được phát triển đúng khi người học chăm sóc những điều kiện giúp tâm an trú, không để sự tán loạn tùy tiện dẫn đi. Một trạng thái an lạc có thể đem lại sức nâng đỡ đáng quý. Nhưng nếu việc hành thiền trở thành cuộc tìm kiếm cảm giác phải được lặp lại, người tu cần xem lại lòng mong cầu ấy. Giữ công phu và biết giới hạn của một kinh nghiệm là hai điều có thể cùng được thực hiện. Không cần loại bỏ một trạng thái thiện chỉ vì sợ rằng mình có thể dính mắc vào nó.
Tuệ cần được nuôi dưỡng để thấy đúng điều đang sinh khởi và đoạn diệt, cùng nguyên nhân khiến khổ tiếp tục. Nếu hiểu được một giáo lý sâu, người tu có thể trân trọng cơ hội học hỏi và thực hành. Nhưng sự hiểu biết không cho phép chúng ta kết luận mọi nhận định khác của mình đều sáng suốt. Khi một chỗ hiểu sai được chỉ ra, việc sửa lại chính là điều phù hợp với mục đích tuệ. Không có lý do gì phải bảo vệ một sai lầm để giữ hình ảnh người có trí.
Có những việc buông bỏ phải diễn ra ngay trong lúc đang thực hành, không cần chờ hoàn tất toàn bộ con đường. Khi nhận ra ý muốn được khen vì giữ giới, chúng ta có thể không tiếp tục nuôi nó. Khi thấy mình đang so sánh mức định với người khác, tâm có cơ hội trở về đối tượng tu tập. Khi một lời giải thích đúng làm phát sinh thái độ kiêu căng, chúng ta cần nhận biết phần mạn đang có mặt. Những điều chỉnh ấy là công việc cụ thể của người còn phải học, không phải chứng cứ đã đoạn tận mọi chấp thủ.
Cũng có một điều phải giữ cho sáng rõ. Niết-bàn vô thủ trước là mục đích của đời sống phạm hạnh, nhưng lời nói về cứu cánh chưa làm người nói đạt cứu cánh. Nếu vì muốn tỏ ra đã buông mọi điều mà xem thường giới, định và Chánh kiến, chúng ta có thể bỏ qua chính những điều kiện cần thiết. Phương tiện phải được dùng đúng chức năng cho tới khi mục đích được hoàn thành. Sự thành tựu ở một chặng không nên bị thổi phồng thành điều đã trọn vẹn.
Người tu cũng không cần chống lại mọi ý nghĩ tự nhiên về bản thân bằng một sự căng thẳng mới. Trong sinh hoạt, chúng ta vẫn phải nhận trách nhiệm, xin lỗi khi làm sai và tiếp tục chăm sóc những nghĩa vụ chân chánh. Vô ngã không làm các việc ấy mất ý nghĩa. Điều được quán sát sâu là sự đồng nhất các pháp với một tự ngã có quyền sở hữu tuyệt đối, rồi từ đó sinh tham ái và ngã mạn. Trí tuệ được phát triển để tháo chính sự nhận lầm ấy.
Bởi vậy, một đời sống đi đúng đường có thể vừa rất nghiêm túc, vừa không cần được xây trên sự tự tôn. Người giữ giới vẫn học cách sửa lỗi. Người tu định vẫn thấy những điều kiện cần chăm sóc. Người phát triển tuệ vẫn biết phần nào đã hiểu, phần nào phải tiếp tục chứng nghiệm. Chúng ta có thể trân trọng từng phẩm chất đã được thực hành mà không lấy nó làm căn cứ đứng cao hơn người khác. Chính sự thành thật ấy giúp các thiện pháp được trưởng dưỡng đúng hướng.
Khi một sự lựa chọn chân chánh đã được thực hiện, điều quý nhất không nhất thiết là cảm giác mình vừa trở thành người tốt hơn. Có thể một tổn hại đã được ngăn lại, một tâm bất thiện không được tiếp tục nuôi dưỡng hoặc một điều trước đây chưa thấy nay đã sáng hơn. Những kết quả ấy có giá trị theo chức năng của chúng. Người tu tiếp tục gìn giữ giới, phát triển định và tu tập trí tuệ, trong khi học không đặt phía sau các pháp ấy một cái tôi cần được xác nhận. Sự không chấp thủ được thực hành ngay trong con đường, để con đường tiếp tục dẫn tới chỗ không còn điều gì phải nắm giữ.