CHƯƠNG 47
Không như lý tác ý
Cách tâm nuôi lớn điều chưa đáng lớn
Khi tâm chỉ tìm những điều xác nhận điều mình đã nghĩ#
Một lời hỏi thăm không được đáp lại. Sự im lặng ấy có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng tâm chúng ta đã nghiêng về một cách giải thích: người kia không còn xem trọng mình. Những lần gặp gỡ trước đây bắt đầu được nhớ lại, nhất là những chi tiết có vẻ phù hợp với điều vừa nghĩ. Một ánh mắt thiếu thân thiện, một câu trả lời ngắn, một cuộc hẹn bị thay đổi bỗng trở thành những bằng chứng. Chúng ta càng suy xét, kết luận ban đầu càng có vẻ chắc chắn, dù sự thật vẫn chưa được tìm hiểu đầy đủ.
Điều đáng chú ý là tâm không chỉ đang nhớ lại những gì đã xảy ra. Nó đang lựa chọn điều gì cần được nhớ, điều gì đáng nghi ngờ và cách hiểu nào phải được củng cố. Những chi tiết không phù hợp với sự bất mãn dễ bị bỏ qua, còn những điều khiến lòng nghi ngờ tăng lên lại được giữ rất kỹ. Sau một thời gian, nỗi khó chịu không còn phụ thuộc nhiều vào sự việc ban đầu. Chính cách suy xét đang tiếp tục cung cấp lý do để nó tồn tại.
Trong giáo pháp của Đức Phật, có một điều rất quan trọng cần được nhận biết: không phải mọi sự chú tâm đều đưa tới hiểu biết chân chánh. Có cách chú tâm khiến những pháp bất thiện chưa sinh có điều kiện sinh khởi, còn những pháp bất thiện đã có mặt tiếp tục được nuôi lớn. Đức Phật gọi đó là .
Không là sự chú tâm và suy xét không phù hợp với , khiến tâm hướng vào những khía cạnh làm tham, sân, si hoặc các trói buộc tăng trưởng. Sự sai lệch có thể nằm ở điều được chọn để chú ý, ở cách chúng ta diễn giải đối tượng, hoặc ở việc cứ tiếp tục nuôi dưỡng một hướng suy nghĩ không đem lại sự thấy biết chân chánh.
Một điều có thật vẫn có thể trở thành đối tượng của không như lý . Người khác có thể đã nói một câu thiếu cẩn trọng. Chúng ta có thể nhớ đúng câu nói ấy. Nhưng nếu mỗi lần nhớ lại chỉ nhằm làm cho sự tức giận mạnh thêm, sự chính xác của ký ức chưa đủ để khiến cách chú tâm trở thành chân chánh.
Ngược lại, một điều chưa chắc chắn có thể được tâm liên tục nghĩ tới như thể đó là sự thật hiển nhiên. Khi đã muốn tin mình bị coi thường, chúng ta dễ giải thích những cử chỉ bình thường theo hướng bất lợi. Sự suy diễn ấy còn có khả năng ảnh hưởng đến cách mình ứng xử, khiến quan hệ vốn chưa rõ ràng trở nên căng thẳng thật sự.
Đức Phật dạy rằng do không như lý tác ý, những chưa sinh có thể sinh khởi, những lậu hoặc đã sinh có thể tăng trưởng. Lậu hoặc là những sự ô nhiễm sâu xa của tâm, khiến chúng sinh tiếp tục bị trói buộc trong khổ đau và . Vì vậy, việc chú tâm sai không chỉ là một thói quen suy nghĩ gây khó chịu nhất thời. Khi được tiếp tục nuôi dưỡng, nó có thể hỗ trợ những khuynh hướng bất thiện sâu hơn.
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải phân biệt sự suy xét cần thiết với sự nuôi dưỡng . Nếu có một hiểu lầm, việc tìm hiểu sự thật là cần thiết. Nếu bị xâm phạm, chúng ta có thể phải xem xét chứng cứ và tìm cách bảo vệ. Không như lý tác ý không có nghĩa cứ nghĩ về một việc khó chịu là sai.
Điều đáng nhận biết là sự chú tâm đang phục vụ mục đích gì và đang làm những pháp nào tăng trưởng. Chúng ta đang cố hiểu sự việc để ứng xử đúng, hay chỉ muốn tìm thêm lý do cho lòng tham, sự oán giận hoặc một quan điểm đã được nắm giữ?
Sự phân biệt ấy không phải lúc nào cũng hiện rõ ngay từ đầu. Một cuộc suy xét chân chánh có thể dần bị xen vào. Một việc tìm hiểu cần thiết có thể trở thành sự lặp lại vô ích khi đã có đủ căn cứ để hành động. Cũng có những điều chúng ta chưa biết, nhưng lòng muốn được chắc chắn khiến tâm tự tạo ra kết luận vượt quá những gì thật sự được xác nhận.
Khi nhận ra cách sự chú tâm đang vận hành, người tu bắt đầu thấy vì sao cùng một sự việc mà những hướng tâm khác nhau có thể dẫn tới những kết quả khác nhau. Điều cần được hiểu không dừng ở nội dung của ý nghĩ. Chúng ta còn phải nhìn thấy cách tâm đang tiếp sức cho nó, và những điều kiện nào khiến sự bất thiện ngày càng có chỗ đứng.
Dục tham được nuôi lớn khi tâm chỉ giữ lấy phần đáng ưa của đối tượng#
Sự ham muốn thường không dừng ở lần đầu chúng ta nhận biết một điều dễ chịu. Sau khi đối tượng đã được nhìn thấy hoặc nghe nói đến, tâm còn có thể tiếp tục nghĩ về nó, tưởng tượng những niềm vui sẽ có và tìm thêm các chi tiết khiến sự mong muốn trở nên mạnh hơn. Đối tượng càng được hình dung theo hướng hấp dẫn, những giới hạn và hệ quả liên hệ càng dễ bị đẩy ra ngoài sự chú ý.
Một món đồ có thể thật sự đẹp và hữu ích. Nhưng khi lòng ham muốn đã chi phối, chúng ta không còn chỉ xem xét giá trị sử dụng của nó. Tâm bắt đầu hình dung cảm giác được sở hữu, sự thỏa mãn khi người khác nhìn thấy, hoặc ý nghĩ rằng đời sống sẽ thiếu một điều quan trọng nếu chưa có nó.
Những suy nghĩ ấy có thể lặp lại nhiều lần, ngay cả khi hoàn cảnh thực tế chưa cho phép sở hữu. Đến lúc ấy, điều đang khiến tâm bất an không chỉ là một món đồ ở bên ngoài. Lòng muốn có đã được chính sự chú tâm làm cho tăng trưởng.
Đức Phật dạy đối với , có những biểu hiện hấp dẫn của đối tượng mà khi bị chú tâm sai lặp đi lặp lại, chúng trở thành thức ăn cho dục tham chưa sinh được sinh khởi, và dục tham đã sinh tiếp tục tăng trưởng.
Hình ảnh thức ăn ở đây giúp chúng ta hiểu một quan hệ rất thực tế. Một trạng thái bất thiện không nhất thiết tự nhiên trở nên mạnh hơn mà không có điều kiện. Khi liên tục chú tâm theo cách làm nó được củng cố, chúng ta đang cung cấp những điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng ấy.
Điều này không có nghĩa mọi sự yêu thích đều là dục tham cần được kết luận giống nhau. Người đang đói muốn có thức ăn, người bệnh cần thuốc, người phải chăm sóc gia đình có nhu cầu tìm kiếm phương tiện sinh sống. Những nhu cầu chính đáng phải được xem xét đúng theo hoàn cảnh.
Sự nguy hại cần nhận ra là cách tâm nắm giữ đối tượng như một nguồn thỏa mãn phải đạt được, rồi để sự ham muốn chi phối những lựa chọn của mình. Khi ấy, chúng ta có thể xem nhẹ khả năng thực tế, bỏ qua điều kiện sống của người khác hoặc tự tạo thêm những đòi hỏi không có điểm dừng.
Dục tham còn có thể được nuôi dưỡng bằng việc chỉ nhìn thấy mặt dễ chịu của một kinh nghiệm. Tâm nhớ rõ niềm vui mà một thói quen từng đem lại, nhưng không muốn xét những hậu quả bất lợi đã xuất hiện cùng nó. Người ấy có thể biết mình thường mệt mỏi sau những lần chiều theo ham muốn, nhưng mỗi khi sự thôi thúc trở lại, ký ức về khoái lạc được làm nổi bật hơn tất cả những điều còn lại.
Đây là một biểu hiện của sự chú tâm thiên lệch. Những chi tiết hấp dẫn được giữ lại và lặp lại, trong khi những điều cần thiết cho sự hiểu biết đầy đủ không còn được xem trọng.
Sự phòng hộ không đòi chúng ta phải căm ghét đối tượng hoặc tự tạo ra những suy nghĩ tiêu cực để chống lại ham muốn. Nếu chỉ thay sự say mê bằng lòng chán ghét, tâm vẫn có thể tiếp tục bị đối tượng chi phối.
Điều cần nhận biết là sức hấp dẫn đang được chính tâm nuôi dưỡng ra sao. Khi biết mình đang liên tục tô đậm một khoái lạc, chúng ta có thể ngừng tiếp tục những suy tưởng không cần thiết, xem lại những điều kiện thực tế và không hành động chỉ để thỏa mãn sự thúc đẩy vừa sinh khởi.
Sự học này đòi lòng kiên nhẫn. Một khuynh hướng đã được nuôi dưỡng lâu ngày có thể tiếp tục xuất hiện dù chúng ta hiểu nó không đem lại an ổn bền vững. Nhưng mỗi lần nhận ra những điều đang tiếp sức cho dục tham, người tu có thêm cơ hội không tiếp tục làm nó mạnh hơn.
Sân hận có thể được nuôi bằng những bằng chứng do chính tâm lựa chọn#
Một lời xúc phạm đã được nói ra và cuộc gặp gỡ cũng đã kết thúc. Nhưng trong tâm người chịu tổn thương, lời ấy có thể được nhắc lại dưới nhiều hình thức. Chúng ta nhớ giọng nói của người kia, suy xét ý định của họ, rồi liên hệ thêm những sự việc cũ. Mỗi chi tiết được đặt vào cùng một cách giải thích khiến người ấy ngày càng có vẻ đáng trách. Sự tức giận ban đầu nhờ vậy có thêm điều kiện để tồn tại.
Có trường hợp người khác thật sự đã làm sai. Việc nhận diện điều ấy không phải tự nó là sân hận. Nếu một hành vi gây tổn hại đang tiếp diễn, chúng ta cần tìm cách ngăn chặn và bảo vệ người bị ảnh hưởng. Nhưng sau khi đã nhận ra điều cần làm, tâm vẫn có thể tiếp tục nuôi ý muốn gây đau đớn cho người kia, tưởng tượng cảnh họ phải chịu nhục hoặc tìm những lý do để xem họ hoàn toàn không còn phẩm giá.
Chính nơi ấy, sự suy xét đã bị sân hận dẫn dắt.
Đức Phật dạy sự chú tâm sai lặp đi lặp lại đối với những biểu hiện khiến tâm chống đối là thức ăn cho sân hận. Khi những khía cạnh đáng ghét của đối tượng liên tục được làm nổi bật, sân chưa sinh có điều kiện xuất hiện, còn sân đã có mặt có thể tăng trưởng.
Trong đời sống, chúng ta thường thấy cách tâm vận hành như vậy mà không nhận ra mình đang tiếp sức cho nó. Một người bị xem là đáng ghét có thể làm điều gì cũng bị giải thích theo hướng xấu. Nếu họ im lặng, chúng ta nghĩ họ khinh thường. Nếu họ giải thích, tâm cho rằng đó chỉ là lời chống chế. Nếu họ nhận lỗi, sự nghi ngờ lại chuyển sang ý nghĩ rằng họ có mục đích riêng.
Khi sự chú tâm bị đặt dưới quyền chi phối của sân, ngay cả những điều chưa rõ cũng có thể được sử dụng để bảo vệ lòng chống đối đã hình thành.
Nhưng sự nhận ra điều này không buộc chúng ta phải xem mọi hành vi đều đáng được tha thứ ngay lập tức. Có những tổn thương nghiêm trọng cần thời gian chăm sóc và những biện pháp bảo vệ thích hợp. Việc giữ khoảng cách với người nguy hiểm có thể là điều cần thiết. Sự buông bỏ ý muốn trả thù khác với việc phải tiếp tục đặt mình vào hoàn cảnh bị xâm hại.
Không như lý tác ý phát sinh khi sự chú tâm liên tục nuôi dưỡng những điều bất thiện nơi chính tâm mình, ngay cả lúc sự nuôi dưỡng ấy không còn phục vụ việc hiểu sự thật hoặc ngăn tổn hại.
Một người có thể dành nhiều thời gian tưởng tượng cuộc tranh luận mà mình sẽ chiến thắng. Trong những suy tưởng ấy, đối phương luôn bị đặt vào vị trí đáng khinh, còn bản thân luôn tìm được lời đáp trả sắc bén. Sau một thời gian, sự việc thực tế có thể đã khác đi, nhưng lòng sân vẫn được duy trì bởi những cuộc đối thoại do tâm tạo dựng.
Nguy cơ không chỉ nằm ở việc chúng ta cảm thấy khó chịu. Khi sân được nuôi lớn, nó có thể ảnh hưởng tới lời nói, hành động và cách đánh giá những hoàn cảnh về sau. Những điều trước đây có thể được nhìn bằng sự công bằng nay dễ bị diễn giải qua một thành kiến đã trở nên quen thuộc.
Đức Phật chỉ dạy người tu phải nhận ra tính bất thiện và sự nguy hại của sân. Việc nhận ra ấy không đòi chúng ta phủ nhận nỗi đau của mình. Chúng ta có thể thừa nhận tổn thương đã xảy ra, tìm cách giải quyết đúng đắn, đồng thời không tiếp tục nuôi ý muốn làm hại.
Khi tâm còn giận, sự chuyển hướng có thể chưa dễ dàng. Nhưng việc không cố ý tìm thêm những điều làm lòng thù ghét tăng trưởng đã là một sự phòng hộ cần thiết. Nhờ đó, người tu không biến một sự việc đau lòng thành điều kiện để tiếp tục thực hiện những hành động bất thiện khác.
Hôn trầm và thụy miên được tiếp sức khi sự buông xuôi trở thành nếp suy xét#
Sự mệt mỏi có những nguyên nhân rất thực. Thân cần nghỉ ngơi sau khi đã sử dụng sức lực, người bệnh có thể suy yếu và một giấc ngủ thích hợp là điều cần thiết để duy trì sức khỏe. Vì vậy, chúng ta không nên chỉ thấy một người buồn ngủ hoặc thiếu năng lượng rồi kết luận rằng họ đang phạm lỗi .
Nhưng Đức Phật còn chỉ ra một sự trì trệ của thân tâm có khả năng cản trở việc phát triển định và tuệ. Ngài gọi đó là hôn trầm và thụy miên, hai trạng thái được nói chung thành một trong .
Hôn trầm liên hệ tới sự trì độn, thiếu năng lực hoạt động của tâm. Thụy miên liên hệ tới trạng thái buồn ngủ và sự nặng nề khiến khả năng suy giảm. Khi những trạng thái ấy chi phối, người tu khó giữ sự sáng rõ và tinh cần đối với .
Đức Phật dạy rằng những biểu hiện như sự chán nản, mệt mỏi, uể oải, buồn ngủ sau bữa ăn và tâm trì trệ có thể trở thành thức ăn cho hôn trầm, thụy miên khi chúng được chú tâm sai lặp đi lặp lại.
Điểm cần thấy nằm ở cách chúng ta đối diện với những điều kiện ấy. Nếu thân thật sự cần nghỉ, việc cố chống lại bằng sự trách móc có thể khiến tình trạng tệ hơn. Nhưng cũng có lúc khả năng thực hành vẫn còn, trong khi tâm cứ tiếp tục nuôi những lý do để buông xuôi.
Một công việc cần thiết chưa quá sức, nhưng vừa nghĩ tới, chúng ta đã tự nhắc rằng mình sẽ không làm nổi. Sự chán nản được nghĩ tới nhiều lần, rồi trở thành lý do để không bắt đầu. Khi tiếp tục trì hoãn, việc chưa được hoàn thành lại khiến tâm thêm nặng nề. Một hướng suy xét thiếu tỉnh thức như vậy có thể góp phần duy trì sự thụ động.
Trong tu tập cũng thế. Khi mới ngồi yên, tâm cảm thấy thiếu hứng thú. Nếu cứ tiếp tục chú ý tới sự chán, tự kể rằng việc thực hành quá khó hoặc vô ích, chúng ta có thể làm cho trạng thái trì trệ tăng trưởng. Điều đáng lẽ cần được nhận biết để điều chỉnh lại trở thành đối tượng được nuôi dưỡng.
Tuy vậy, không phải mọi lần mất hứng thú đều là không như lý tác ý. Có người đang kiệt sức, chịu áp lực kéo dài hoặc có vấn đề sức khỏe khiến sự tập trung và năng lượng suy giảm. Những tình trạng ấy cần được chăm sóc và tìm sự hỗ trợ phù hợp, không nên bị giải thích đơn giản là thiếu .
Người tu cần hiểu điều kiện thực tế của thân tâm. Có khi phải nghỉ ngơi, thay đổi thời khóa hoặc điều chỉnh cách thực hành. Có khi cần đứng dậy, đi lại tỉnh thức hoặc trở về với một việc vừa sức để không tiếp tục chìm trong sự trì trệ.
Sự khác biệt nằm ở việc lựa chọn phương pháp phù hợp, thay vì chỉ tiếp tục tán thành những suy nghĩ khiến khả năng thực hành ngày càng suy yếu.
Hôn trầm và thụy miên không được đoạn trừ chỉ bằng việc tự ra lệnh phải tỉnh táo. Người tu cần phát triển những điều kiện của tinh tấn và sự sáng rõ, đồng thời biết chăm sóc thân đúng mức.
Khi nhận ra tâm đang liên tục nuôi sự buông xuôi, chúng ta có cơ hội không tiếp tục đặt sự chú ý vào những lý do khiến mình bất động. Một hành động nhỏ phù hợp với khả năng thực tế có thể giúp việc thực hành được nối lại, nhưng sự tinh tấn phải được nâng đỡ bằng hiểu biết chứ không phải bằng việc cưỡng ép thân tâm quá mức.
Trạo cử và hối quá: Khi tâm cứ tiếp tục khuấy động chính mình#
Một việc đã được chuẩn bị tương đối đầy đủ, nhưng đến lúc cần thực hiện, chúng ta lại liên tục kiểm tra những khả năng bất lợi. Vừa giải quyết một điều lo ngại, tâm đã chuyển sang điều khác. Sự suy xét không đưa đến quyết định rõ ràng, cũng không giúp nhận ra thêm thông tin thực sự cần thiết. Nó chỉ khiến tâm mỗi lúc một khó yên.
Sự bất an ấy có thể liên hệ tới trạo cử, trạng thái tâm dao động, thiếu an tịnh. Đi cùng nó là , sự day dứt và bứt rứt đối với những điều đã làm hoặc chưa làm, khiến tâm khó được an trú. Đức Phật đặt trạo cử và hối quá chung thành một vì chúng có khả năng làm tâm bị khuấy động, cản trở sự định tĩnh.
Ngài dạy sự chú tâm sai lặp đi lặp lại đối với trạng thái tâm không an tịnh là thức ăn cho trạo cử và hối quá. Điều này cần được hiểu cẩn trọng, bởi không phải cứ nhận ra mình đang bất an thì đã tác ý sai.
Sự nhận biết trung thực là cần thiết. Nhưng nếu tâm tiếp tục chạy theo những điều làm sự dao động tăng trưởng, chúng ta đang cung cấp thêm điều kiện cho sự bất an.
Trong đời sống, người có nhiều trách nhiệm cần dự tính những tình huống có thể xảy ra. Sự chuẩn bị phù hợp giúp tránh bất cẩn. Nhưng khi đã có đủ thông tin mà vẫn liên tục tìm kiếm một sự bảo đảm tuyệt đối, sự suy xét có thể mất dần khả năng phục vụ hành động.
Chúng ta bắt đầu xem mọi khả năng chưa xảy ra như một nguy cơ phải được giải quyết ngay. Vì tương lai chưa thể được biết hết, tâm lại tiếp tục phát sinh thêm điều cần lo. Sự bất định của hoàn cảnh trở thành đối tượng mà chúng ta cố kiểm soát bằng suy nghĩ không ngừng.
Đối với hối quá, sự phân biệt giữa nhận lỗi và nuôi dưỡng day dứt càng quan trọng.
Khi đã làm một việc bất thiện, biết hối tiếc đúng mức có thể giúp chúng ta nhận ra lỗi lầm và thực hiện trách nhiệm sửa chữa. Đức Phật không khuyến khích người tu thản nhiên trước điều ác. Nhưng sau khi đã nhận biết và thực hiện những việc cần thiết, nếu tâm vẫn liên tục tự kết án mà không hướng tới thay đổi chân chánh, sự day dứt có thể trở thành một chướng ngại.
Người ấy nhớ lại lỗi cũ, tưởng tượng hết lần này đến lần khác những điều lẽ ra phải làm khác đi. Điều không thể thay đổi trong quá khứ tiếp tục được tâm đem ra xét xử, trong khi những trách nhiệm hiện tại bị bỏ quên.
Sự hối tiếc lúc ấy không còn hỗ trợ việc sửa đổi. Nó khiến tâm mắc kẹt trong những suy nghĩ không đem lại hành động chân chánh nào.
Tuy vậy, nếu hậu quả của việc làm vẫn còn, chúng ta không nên vội xem sự quan tâm tới hậu quả là hối quá cần bỏ. Có những trách nhiệm phải thực hiện trong thời gian dài. Người đã gây tổn thương cần tìm cách khắc phục phù hợp và tôn trọng quyền lợi chính đáng của người chịu ảnh hưởng.
Điều cần phân biệt là sự chăm sóc trách nhiệm với việc liên tục tự khuấy động tâm bằng những suy nghĩ không còn ích lợi.
Trạo cử và hối quá cho thấy sự chú tâm sai không chỉ nuôi lòng tham hoặc sân. Nó còn có thể khiến tâm bất an ngay trong lúc chúng ta tưởng mình đang cố trở nên cẩn trọng hơn.
Khi sự suy xét đã mất khả năng giúp hiểu hoặc hành động, người tu cần nhận ra điều ấy. Chúng ta có thể trở về với công việc cần thực hiện, ngừng việc kiểm tra vô ích hoặc tìm sự hướng dẫn khi có vấn đề chưa đủ hiểu biết. Sự an trú cần được phát triển bằng những điều kiện thích hợp, không phải bằng cách ép tâm đạt một sự chắc chắn tuyệt đối trước mọi biến đổi của đời sống.
Hoài nghi trở thành chướng ngại khi sự tìm hiểu không còn hướng tới hiểu biết#
Một người mới học giáo pháp có thể chưa hiểu rõ nhiều điều. Họ đặt câu hỏi về nghiệp, về khổ, về con đường tu tập và những kết quả được Đức Phật chỉ dạy. Những câu hỏi ấy có thể xuất phát từ mong muốn hiểu đúng, và sự tìm hiểu chân thành là điều cần thiết.
Vì vậy, không nên đánh đồng mọi nghi vấn với hoài nghi thuộc năm triền cái.
Hoài nghi trở thành chướng ngại khi tâm lưỡng lự, không thể xác định hướng thực hành chân chánh, trong khi sự suy xét lại liên tục nuôi chính trạng thái không quyết định ấy. Đức Phật dạy những điều làm nền cho nghi, khi bị chú tâm sai thường xuyên, trở thành thức ăn khiến hoài nghi chưa sinh được sinh khởi và hoài nghi đã có mặt tiếp tục tăng trưởng.
Sự chú tâm sai ở đây có thể được nhận ra khi người học không còn thật sự tìm cách giải quyết điều mình chưa biết. Mỗi lời giải thích được nghe lại lập tức trở thành lý do để đặt thêm những câu hỏi không liên hệ tới vấn đề ban đầu. Các khả năng được nghĩ ra nối tiếp nhau, nhưng không có tiêu chuẩn rõ ràng để phân biệt điều nào đáng được kiểm chứng.
Người ấy có thể dành nhiều thời gian suy nghĩ về giáo pháp mà vẫn không thực hiện được một căn bản. Sự bất định liên tục được nuôi dưỡng, trong khi việc học hỏi, đối chiếu và tu tập chưa được thực hiện đúng mức.
Nhưng chúng ta cần hết sức thận trọng khi áp dụng điều này cho người khác. Một người nghi ngờ lời dạy chưa có căn cứ, hoặc muốn kiểm chứng những tuyên bố quan trọng, không vì vậy mà đáng bị trách móc. Đức Phật không yêu cầu người tu tin mọi lời chỉ vì chúng được nói bằng giọng chắc chắn.
Sự học cần và khả năng phân biệt. Có những vấn đề chưa rõ phải tiếp tục tìm hiểu. Có những thông tin không đáng tin cần được kiểm chứng. Cũng có những quan điểm cần được từ bỏ khi nhận ra chúng không phù hợp với lời dạy chân chánh.
Sự hoài nghi gây chướng ngại khác ở chỗ nó liên tục làm suy yếu khả năng học và thực hành, dù những điều cần thiết để bước tiếp đã có thể được nhận biết.
Một người có thể hiểu rằng việc từ bỏ lời là chân chánh, nhưng cứ chờ tới khi giải quyết xong mọi vấn đề triết học mới chịu thực hành. Họ không thiếu thông tin về hành động cần từ bỏ. Điều đang cản trở có thể là thói quen lấy sự chưa chắc chắn ở những lĩnh vực khác làm lý do trì hoãn điều đã hiểu.
Khi nhận ra sự trì hoãn ấy, chúng ta có thể học đúng phần còn thiếu, đồng thời thực hiện những điều chân chánh đã được xác định.
Tuy vậy, không nên dùng sự tinh tấn để che giấu những nghi vấn thật sự chưa được giải quyết. Một niềm tin bị ép buộc có thể đem lại vẻ chắc chắn bên ngoài mà không làm trí tuệ tăng trưởng. Người học cần được khuyến khích hỏi, tìm hiểu và phân biệt sự thật với suy đoán.
Sự khác biệt giữa tìm hiểu và nuôi nghi nằm ở hướng đi của việc suy xét. Một bên tìm căn cứ để hiểu đúng và có khả năng điều chỉnh nhận thức. Bên kia có thể cứ tiếp tục sản sinh sự bất định, dù việc ấy không đưa tới tri kiến rõ ràng hơn.
Hoài nghi còn có thể được nuôi dưỡng bởi việc chỉ chú ý tới những điều làm lung lay lòng tin mà không xem xét toàn bộ căn cứ. Khi đã nghi một phương pháp, người học có thể diễn giải mọi khó khăn trong tu tập như bằng chứng phương pháp ấy hoàn toàn vô ích. Nhưng nếu chỉ tìm những kết quả dễ chịu để xác nhận niềm tin của mình, sự thiên lệch theo chiều ngược lại cũng không đưa tới hiểu biết đúng.
Người tu cần học xem xét các pháp bằng sự công bằng và có căn cứ, không để lòng thích hoặc ghét quyết định trước kết luận.
Khi có , sự học hỏi đúng pháp và việc thực hành phù hợp, những điều chưa hiểu có cơ hội được làm sáng tỏ. Sự tin tưởng chân chánh được nuôi dưỡng bằng hiểu biết, không phải bằng cách cấm bản thân đặt câu hỏi.
Từ những suy xét sai lệch, lậu hoặc và các kiến chấp có thể được nuôi dưỡng sâu hơn#
Năm triền cái có khả năng che lấp tâm và cản trở sự phát triển định, tuệ. Nhưng không như lý tác ý còn liên hệ tới những sự ô nhiễm sâu xa hơn, khiến chúng sinh tiếp tục bị trói buộc trong sinh tử.
Đức Phật chỉ rõ do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sinh có thể sinh khởi và các lậu hoặc đã sinh được tăng trưởng. Trong lời dạy ấy, Ngài đề cập tới , hữu lậu và .
Dục lậu liên hệ tới sự ô nhiễm bởi dục. Hữu lậu liên hệ tới sự chấp giữ hiện hữu, sự muốn tiếp tục trở thành và tồn tại theo một cách nào đó. lậu là sự ô nhiễm do không thấy biết đúng những sự thật cần được .
Những lậu hoặc ấy không nên bị đồng nhất đơn giản với mọi cảm giác khó chịu thường ngày. Chúng thuộc những điều kiện sâu xa của sự trói buộc, cần được nhận biết và đoạn trừ bằng con đường tu tập tương ứng.
Một biểu hiện đặc biệt của không như lý tác ý là khi tâm bị cuốn vào những suy đoán về một bản ngã thường hằng. Con người có thể liên tục tìm cách xác định một cái tôi đã tồn tại như thế nào trong quá khứ, sẽ tồn tại ra sao trong tương lai, hoặc có bản chất cố định gì ở hiện tại.
Sự suy xét ấy có thể khiến người ta hình thành nhiều quan điểm khác nhau về tự ngã. Có người nắm giữ ý nghĩ rằng bên trong thân tâm có một chủ thể bất biến. Có người lại chấp chặt một kết luận đối lập như thể chỉ cần phủ nhận bằng khái niệm là đã hiểu trọn vẹn giáo lý .
Đức Phật chỉ rõ sự suy xét sai như vậy có thể đưa tới một rừng kiến chấp, nơi tâm bị trói buộc bởi những quan niệm về tự ngã.
Điều này không có nghĩa mọi nghiên cứu về quá khứ hoặc mọi câu hỏi về sự tồn tại đều sai. Chúng ta vẫn cần nhớ những việc đã xảy ra để học hỏi và thực hiện trách nhiệm. Sự suy xét về tương lai cũng cần thiết cho những quyết định chân chánh.
Sự nguy hại được Đức Phật nêu ra nằm ở cách tâm truy tìm và nắm giữ những quan điểm về một cái tôi như thực thể độc lập, thay vì thấy đúng các pháp theo nhân duyên, , khổ và vô ngã.
Chúng ta cũng không nên hiểu rằng phủ nhận sự tồn tại của con người trong đời sống quy ước là cách thực hành Vô ngã. Người thực hiện hành động vẫn phải chịu trách nhiệm về nghiệp có chủ ý. Những điều thiện, bất thiện và các quả tương ứng không trở thành vô nghĩa chỉ vì không có một tự ngã thường hằng.
Không như lý tác ý có thể khiến người tu dùng chính những khái niệm giáo lý để tiếp tục nắm giữ quan điểm. Người ấy tìm cách chứng minh mình đã hiểu Vô ngã hơn người khác, rồi lấy sự hơn thua ấy làm đối tượng nuôi dưỡng .
Khi đó, những lời giải thích có thể sử dụng thuật ngữ đúng, nhưng tâm vẫn đang đi theo hướng chấp thủ.
Sự phân biệt này cũng giúp chúng ta hiểu vì sao trí không thể được thay thế bằng sự tranh luận kéo dài. Việc học hỏi và lý luận đúng có vai trò rất quan trọng, nhưng phải được hướng tới sự thấy biết như thật, không trở thành nơi tạo thêm những kiến chấp cần bảo vệ bằng mọi giá.
Đức Phật chỉ dạy người đệ tử có học chú tâm đúng tới khổ, nguyên nhân khổ, sự đoạn diệt khổ và con đường đưa tới . Khi bốn sự thật được thấy biết bằng trí tuệ tương ứng, những trói buộc căn bản như , nghi và được đoạn trừ.
Đây là sự chứng ngộ sâu xa, không thể được đồng nhất với việc đọc hiểu một vài lời giải thích hoặc tạm thời cảm thấy tâm sáng rõ.
Không như lý tác ý nguy hại chính vì nó có thể khiến người tu đi rất xa trong suy nghĩ mà không tiến gần hơn tới việc những nguyên nhân của khổ. Chừng nào sự chú tâm vẫn tiếp tục nuôi dục, hữu và vô minh, việc tích lũy thêm những quan điểm chưa bảo đảm trí tuệ đã được phát triển.
Nhận ra điều đang nuôi tâm là bước đầu để không tiếp tục làm phiền não tăng trưởng#
Sự chú tâm có thể được thực hiện rất nhiều lần trong một ngày, nhưng chúng ta ít khi xem xét những điều mình đang thường xuyên quay trở lại. Một ý nghĩ đã qua có thể được gọi lại vì nó đem đến khoái lạc. Một điều gây bất mãn được nhớ lại để lòng sân có thêm lý do tồn tại. Một mối lo chưa có căn cứ được tiếp tục suy xét như thể chính sự lo lắng sẽ giúp mọi nguy hiểm biến mất.
Những việc ấy có thể trở thành thói quen mà người thực hiện không nhận ra đầy đủ.
Đức Phật chỉ dạy các triền cái có những điều kiện nuôi dưỡng. Khi điều kiện thích hợp được cung cấp, các pháp bất thiện chưa sinh có khả năng sinh khởi, những pháp đã sinh có thể tăng trưởng. Điều này giúp chúng ta nhận ra rằng sự phát triển của phiền não không nhất thiết là một tiến trình hoàn toàn nằm ngoài khả năng tu tập.
Chúng ta không thể ngăn mọi đối tượng xuất hiện hoặc làm cho tất cả những khuynh hướng bất thiện đã có lập tức chấm dứt. Nhưng khi biết một cách chú tâm đang tiếp tục nuôi điều bất thiện, người tu có thể học không tán thành và không chủ động duy trì nó.
Việc ấy bắt đầu bằng sự nhận biết chân thật.
Khi lòng tham đang mạnh, cần biết mình đang bị hấp dẫn bởi điều gì và có đang liên tục làm đối tượng trở nên đáng khao khát hơn hay không. Khi sân hận xuất hiện, chúng ta xem sự suy xét có còn phục vụ việc giải quyết chân chánh, hay đã trở thành cách nuôi thêm ý muốn gây tổn thương.
Khi tâm trì trệ, cần phân biệt nhu cầu nghỉ ngơi thật sự với những suy nghĩ đang hỗ trợ sự buông xuôi. Khi bất an, chúng ta học nhận ra sự khác biệt giữa trách nhiệm phải thực hiện và những điều được lo lắng mãi mà không có hành động thích hợp. Khi nghi ngờ, điều cần làm là tìm căn cứ và học hỏi, thay vì để sự bất định trở thành lý do từ bỏ mọi điều đã hiểu là chân chánh.
Nhưng sự nhận biết ấy không nên biến thành một cuộc xét hỏi tâm không ngừng. Nếu vừa có một ý nghĩ xuất hiện, chúng ta đã lo rằng mình đang tác ý sai, sự lo lắng mới có thể khiến tâm thêm căng thẳng.
Đức Phật không dạy con người phải tạo ra sự sợ hãi đối với từng hiện tượng tâm. Ngài hướng người tu tới sự biết rõ điều thiện, điều bất thiện và những điều kiện khiến chúng sinh khởi hoặc được đoạn trừ.
Một ý nghĩ bất chợt xuất hiện chưa nhất thiết là một chủ ý đã được chúng ta tán thành và nuôi dưỡng. Nhưng khi nhận ra mình đang chủ động tiếp sức cho lòng tham, sân hoặc những kiến chấp, sự phòng hộ trở nên cần thiết.
Có những điều kiện cần được thay đổi ở bên ngoài. Nếu việc thường xuyên tiếp xúc với một đối tượng khiến bất thiện tăng trưởng, chúng ta có thể giảm hoặc tránh sự tiếp xúc không cần thiết. Nếu một cuộc tranh luận đã trở thành nơi nuôi sân hận, biết dừng lại và tìm phương pháp giải quyết thích hợp là điều đáng được thực hành.
Cũng có những trạng thái cần được đối diện bằng việc chăm sóc thân, tìm sự hỗ trợ hoặc thực hiện những trách nhiệm thực tế. Không nên nghĩ rằng mọi khó khăn đều được giải quyết chỉ bằng cách chuyển sự chú ý.
Khi đã gây tổn hại, người tu cần nhận trách nhiệm. Khi đang bệnh, việc điều trị phù hợp vẫn cần thiết. Khi thiếu hiểu biết, phải học hỏi. Sự tu tập tâm không xóa bỏ những điều kiện ấy.
Nhưng trong khi thực hiện những việc cần làm, chúng ta vẫn có thể nhận ra điều gì đang được nuôi dưỡng nơi tâm mình. Một quyết định đúng có thể được thực hiện mà không thêm lòng trả thù. Việc sửa lỗi có thể được tiến hành mà không tiếp tục tự khinh miệt. Một vấn đề chưa rõ có thể được tìm hiểu mà không biến sự nghi ngờ thành lý do từ bỏ toàn bộ con đường.
Cần hiểu rằng không như lý tác ý không chỉ làm tâm khó chịu trong hiện tại. Khi được thực hiện thường xuyên, nó có thể góp phần khiến những khuynh hướng bất thiện trở nên quen thuộc, tạo điều kiện cho các triền cái và lậu hoặc tăng trưởng.
Chính vì thế, Đức Phật đặt sự chú tâm đúng và sai vào mối liên hệ với việc đoạn trừ các lậu hoặc. Người tu cần biết những pháp nào nên được tác ý và những pháp nào không nên tiếp tục tác ý theo hướng nuôi dưỡng bất thiện.
Sự phân biệt này đòi học hỏi và thực hành lâu dài. Chúng ta có thể nhận ra mình đã chú tâm sai sau khi lòng tham hoặc sân tăng trưởng. Nhưng nhờ lần nhận biết ấy, tâm có thêm điều kiện hiểu một khuynh hướng cần được phòng hộ. Khi sự tỉnh thức được phát triển, việc nhận ra có thể diễn ra sớm hơn, trước khi những suy nghĩ bất thiện kéo dài hoặc dẫn tới hành động.
Tuy vậy, không nên xem mỗi lần dừng được một ý nghĩ bất thiện là sự . Những trói buộc sâu xa cần được tháo gỡ bằng con đường tu tập đầy đủ. Giới hạnh giúp hành động được bảo hộ. Định hỗ trợ sự an trú của tâm. Trí tuệ thấy biết như thật giúp các nguyên nhân của khổ có điều kiện được đoạn trừ.
Sự thực hành không như lý tác ý và như lý tác ý cũng cần được hiểu trong mối liên hệ ấy. Người tu học nhận ra cách chú tâm đang nuôi điều bất thiện để không tiếp tục cung cấp điều kiện cho nó. Đồng thời, cần phát triển những điều kiện chân chánh giúp Chánh kiến, và các được tăng trưởng.
Một sự việc có thể đã kết thúc, nhưng tâm vẫn có khả năng mang nó trở lại nhiều lần. Nếu mỗi lần trở lại chỉ nhằm nuôi thêm lòng tham, oán giận hoặc những kiến chấp, chính sự chú tâm đang khiến điều đáng lẽ cần được đoạn giảm tiếp tục lớn lên.
Khi nhận ra sự thật ấy, chúng ta có thể học không tiếp tục đi theo một hướng chỉ vì nó đã trở nên quen thuộc. Điều cần giải quyết được giải quyết. Điều bất thiện được nhận biết để từ bỏ. Điều chưa hiểu được tìm hiểu bằng phương pháp chân chánh.
Một điều có thể được nghĩ đến rất nhiều mà vẫn chưa được hiểu đúng. Khi nhận ra cách mình đang chú tâm, chúng ta có cơ hội dừng việc tiếp sức cho phiền não và trở lại với điều cần được thấy.