Sợi Chỉ Đỏ

CHƯƠNG 46

Như lý tác ý

Đặt tâm đúng chỗ để trí tuệ sinh khởi

Tuyến 5: Nghiệp, giới và sự tác ýKhoảng 34 phút đọcBản in tr. 1062

Điều được chú tâm có thể mở ra hiểu biết hoặc khiến khổ đau tiếp tục#

Chúng ta có thể nhớ rất rõ từng chi tiết của một sự việc mà vẫn chưa hiểu điều gì trong đó đang nuôi lớn khổ đau. Một lời nói trái ý được nhớ lại nhiều lần. Những biểu hiện nhỏ trên khuôn mặt người đối diện được đem ra suy xét. Tâm tìm thêm lý do để giải thích vì sao mình đã bị đối xử như vậy. Nhưng sau tất cả những suy nghĩ ấy, sự bất mãn có thể vẫn nguyên vẹn, thậm chí còn mạnh hơn. Chúng ta đã dành nhiều thời gian cho sự việc, nhưng sự chú ý chưa chắc được đặt vào điều cần hiểu.

Trong đời sống, khả năng suy nghĩ thường được xem là một biểu hiện của hiểu biết. Càng phân tích nhiều, chúng ta càng có cảm giác mình đang tiến gần tới sự thật. Tuy nhiên, Đức Phật chỉ ra rằng việc tâm hướng đến một đối tượng và suy xét đối tượng ấy có thể dẫn tới những kết quả rất khác nhau. Có cách chú tâm khiến những chưa sinh có điều kiện sinh khởi, những lậu hoặc đã sinh tiếp tục tăng trưởng. Cũng có cách chú tâm giúp ngăn sự sinh khởi và hỗ trợ đoạn trừ những pháp bất thiện ấy.

Lậu hoặc là những sự ô nhiễm sâu xa của tâm, liên hệ tới dục, sự chấp giữ hiện hữu và , khiến con người tiếp tục bị trói buộc trong khổ đau. Việc đoạn trừ chúng không thể chỉ dựa vào mong muốn được thanh thản. Người tu cần học biết điều gì đáng được chú tâm và cách chú tâm nào phù hợp với con đường .

Đức Phật gọi sự chú tâm chân chánh ấy là .

Trong cách hiểu thông thường, dễ bị xem là cố gắng nghĩ về một điều gì đó. Nhưng như lý tác ý có ý nghĩa sâu hơn việc chủ động hướng tâm. Nó liên hệ tới sự chú tâm và suy xét đúng theo pháp, biết đặt tâm vào những điều cần được nhận rõ để các pháp bất thiện được đoạn giảm và trí tuệ có điều kiện phát triển.

Khi gặp một việc không vừa ý, chúng ta vẫn cần hiểu chuyện gì đã xảy ra. Nếu có sự bất công hoặc tổn hại thực tế, những trách nhiệm tương ứng phải được nhìn nhận và giải quyết. Như lý tác ý không yêu cầu người tu bỏ qua sự thật của hoàn cảnh. Nhưng ngoài những điều cần giải quyết ấy, chúng ta còn phải hiểu phần khổ đau đang được tạo tác và duy trì nơi tâm mình.

Một lời phê bình có thể đúng một phần hoặc hoàn toàn thiếu căn cứ. Việc xác minh nội dung ấy thuộc trách nhiệm thực tế. Nhưng nếu sau đó tâm liên tục muốn chứng minh người khác phải thấp kém hơn mình, người tu cần nhận ra sự suy xét đang bị lòng sân hoặc sự chấp giữ bản thân dẫn dắt.

Khi biết chuyển sự chú ý sang những đang làm bất mãn tăng trưởng, chúng ta bắt đầu có khả năng học từ chính điều đang xảy ra. Tâm nhận biết cơn giận, thấy sự nắm giữ ý kiến và có cơ hội không tiếp tục nuôi những suy tính gây hại.

Sự chuyển hướng ấy chưa phải là trí đã thành tựu. Nhưng nó cho thấy việc chú tâm có thể được giáo dục. Chúng ta không nhất thiết phải nghĩ theo hướng mà thói quen vừa đưa tới, cũng không cần tin rằng suy nghĩ nào xuất hiện mạnh nhất thì suy nghĩ ấy đáng được tiếp tục nhất.

Khi Đức Phật dạy như lý tác ý, Ngài hướng người tu tới khả năng phân biệt điều gì đang hỗ trợ sự thấy biết chân chánh và điều gì đang khiến các trói buộc được nuôi dưỡng. Việc học ấy không bắt đầu bằng sự cố gắng kiểm soát mọi suy nghĩ, mà bằng sự hiểu biết về hướng tâm đang được thực hiện.

Như lý tác ý là đặt sự chú tâm vào điều đáng được hiểu theo Chánh pháp#

Một câu hỏi có thể được đặt ra rất nghiêm túc, nhưng sự nghiêm túc tự nó chưa bảo đảm câu hỏi ấy dẫn tới điều cần thấy. Nếu người đang đau khổ chỉ muốn biết làm sao để không bao giờ gặp điều trái ý nữa, họ có thể dành nhiều sức tìm kiếm một sự bảo đảm mà đời sống hữu vi không thể đem lại. Trong khi ấy, những nguyên nhân khiến tâm bị trói buộc trước điều trái ý vẫn chưa được nhận biết.

Như lý tác ý giúp người tu chuyển sang một hướng suy xét có căn cứ trong giáo pháp.

Đức Phật dạy người có học biết những pháp nào cần tác ý và những pháp nào không cần tác ý. Ngài chỉ rõ những pháp cần được chú tâm là những pháp mà khi tác ý đến, các lậu hoặc chưa sinh không sinh khởi, hoặc các lậu hoặc đã sinh có điều kiện được đoạn trừ.

Như vậy, tiêu chuẩn của sự chú tâm chân chánh liên hệ trực tiếp tới mục đích đoạn trừ bất thiện và phát triển trí tuệ. Nó không chỉ được quyết định bởi đối tượng đang khiến chúng ta thích thú, hay bởi việc suy nghĩ có đem lại cảm giác dễ chịu ngay lúc ấy hay không.

Một điều đúng sự thật có thể khiến người nghe phải đối diện với trách nhiệm khó khăn. Một sự quán sát chân chánh có thể làm lộ ra lòng tham hoặc sân mà trước đó chúng ta chưa muốn thừa nhận. Vì thế, không thể lấy sự dễ chịu làm dấu hiệu duy nhất của như lý tác ý.

Ngược lại, sự suy nghĩ đem lại cảm giác hưng phấn cũng không nhất thiết là thiện. Có khi chúng ta rất hào hứng khi tìm được một lý do để biện hộ cho ham muốn của mình. Càng suy xét, lòng tham càng có thêm căn cứ để đòi hỏi. Sự hoạt động mạnh mẽ của trí óc trong hoàn cảnh ấy chưa bảo đảm tâm đang được dẫn dắt bởi .

Sự hiểu biết cần được phát triển là khả năng nhận ra điều gì có lợi ích chân chánh trên con đường đoạn khổ.

Tuy vậy, như lý tác ý không có nghĩa người tu phải biến mọi hoạt động thường ngày thành một cuộc phân tích giáo lý. Khi đang chăm sóc người bệnh, chúng ta cần chú ý tới nhu cầu thực tế của họ. Khi phải giải quyết một trách nhiệm, cần thu thập thông tin và xem xét phương pháp thích hợp. Sự chú tâm đúng chỗ cũng bao gồm khả năng nhận biết những điều kiện cần thiết để thực hiện một việc chân chánh.

Nhưng trong việc ấy, chúng ta cần học phân biệt sự suy xét nhằm giải quyết vấn đề với việc cố ý nuôi thêm tham, sân hoặc chấp thủ. Một việc cần suy nghĩ có thể được hoàn thành trong sự . Cũng chính việc ấy có thể trở thành nơi chúng ta liên tục hơn thua, tự đề cao hoặc muốn người khác phải chịu bất lợi.

Như lý tác ý vì vậy không chỉ liên hệ tới câu hỏi đang được đặt ra bằng lời. Nó còn liên hệ tới cách tâm hướng đến đối tượng, điều được xem là đáng chú ý và mục đích mà sự suy xét đang phục vụ.

giúp người tu nhớ và nhận biết những gì cần được nhận biết, không dễ rời khỏi hướng . Như lý tác ý có vai trò hướng sự chú tâm tới những pháp và những khía cạnh đáng được suy xét theo Chánh pháp. Hai yếu tố hỗ trợ nhau, nhưng không cần đồng nhất chúng thành một.

cũng có mối liên hệ mật thiết với như lý tác ý. Khi hiểu đúng lời Phật dạy, chúng ta có cơ sở nhận ra điều gì nên được chú tâm. Khi thường xuyên như lý tác ý, sự hiểu biết ấy có điều kiện được làm sâu sắc hơn qua việc quan sát các pháp.

Người mới tu có thể chưa phân biệt rõ tất cả những điều cần tác ý. Vì vậy, sự học hỏi chánh pháp và thân cận những người có hiểu biết chân chánh rất cần thiết. Chúng ta không thể chỉ dựa vào cảm giác chủ quan rằng suy nghĩ của mình nghe có vẻ sâu sắc rồi xem nó là như lý tác ý.

Điều quan trọng nằm ở hướng đi của sự suy xét. Khi được đặt đúng chỗ, sự chú tâm không tiếp tục làm mạnh thêm những điều đang trói buộc, mà trở thành điều kiện để người tu nhận ra chúng và phát triển con đường đoạn trừ.

Bốn sự thật về khổ là hướng quán sát căn bản của như lý tác ý#

Đức Phật chỉ dạy rất rõ một nội dung trọng yếu của như lý tác ý. Người đệ tử có học hướng sự chú tâm và hiểu biết đúng tới khổ, nguyên nhân sinh khổ, sự đoạn diệt khổ và con đường đưa đến .

Đây là bốn sự thật cao quý làm nền tảng cho con đường giải thoát. Khi tâm được hướng về những sự thật ấy, việc quan sát không còn chỉ xoay quanh những điều khiến chúng ta ưa thích hoặc khó chịu. Người tu học nhận ra bản chất của khổ và những điều kiện khiến khổ tiếp tục sinh khởi.

Trước hết, khổ cần được nhận biết đúng. Trong đời sống, chúng ta thường gọi một sự kiện không thuận lợi là nguyên nhân duy nhất khiến mình đau khổ. Nhưng khi nhìn sâu, người tu nhận ra những gì đang được chấp giữ đều chịu sự biến đổi. Thân có thể đau bệnh, cảm giác dễ chịu không thể duy trì mãi, những điều quý trọng có thể đổi khác. bị chấp thủ chính là phạm vi mà sự thật về khổ cần được nhận biết.

Điều ấy không có nghĩa mọi niềm vui đều phải bị phủ nhận hoặc người tu phải cố làm mình buồn rầu. Nhận biết khổ là hiểu tính chất bất toàn và không thể nắm giữ bền chắc của những , đặc biệt khi tham ái và chấp thủ khiến chúng trở thành nền tảng cho sự trói buộc.

Khi sự thật về khổ được nhận ra, sự chú tâm cần tiến tới nguyên nhân của khổ. Đức Phật chỉ rõ tham ái là nguồn gốc đưa tới sự , đi cùng hỷ tham, tìm cầu sự thỏa mãn nơi này chỗ khác. Đây là điều sâu xa hơn việc chỉ tìm xem hoàn cảnh nào đã làm chúng ta khó chịu trong một thời điểm.

Một lời từ chối có thể là sự kiện khiến tâm buồn. Nhưng khi chúng ta thấy mình khổ vì nhất định muốn được chấp thuận, muốn hình ảnh bản thân luôn được bảo vệ, hoặc không chấp nhận một điều đã thay đổi, sự hiểu biết về tham ái và chấp thủ có cơ hội được phát triển.

Tuy nhiên, không nên dùng cách quán sát ấy để phủ nhận những tổn hại thực tế. Nếu có hành vi xâm phạm, lừa dối hoặc bạo lực, những hành vi ấy cần được nhận diện và xử lý thích hợp. Việc thấy rõ tham ái trong tâm không có nghĩa người đang chịu tổn thương phải nhận trách nhiệm thay cho người gây hại.

Sự thật về khổ và nguyên nhân khổ được Đức Phật dạy nhằm mở ra trí tuệ giải thoát, không phải để xóa đi những phân biệt đúng sai trong đời sống.

Khi nhận ra nguyên nhân, người tu có cơ sở hiểu sự đoạn diệt khổ. Đức Phật dạy sự chấm dứt tham ái, sự từ bỏ và giải thoát khỏi tham ái là khổ diệt. Sự đoạn diệt ấy không phải chuyện làm cho hoàn cảnh bên ngoài luôn thuận theo ý muốn. Nó liên hệ tới việc những nhân duyên trói buộc được chấm dứt.

Nếu chỉ mong người khác thay đổi hoàn toàn để mình không bao giờ buồn nữa, tâm vẫn đặt sự bình an vào những điều ngoài khả năng kiểm soát. Nhưng khi học nhận ra và đoạn trừ tham ái, chúng ta bắt đầu hướng tới một khả năng giải thoát sâu hơn sự thay đổi tạm thời của cảm xúc.

Sự thật cuối cùng là con đường đưa đến khổ diệt. Đức Phật chỉ dạy con đường ấy bằng . Việc hiểu khổ và nguyên nhân khổ vì thế phải đi cùng sự thực hành, từ Chánh kiến, tới giới hạnh, , chánh niệm và .

Bốn sự thật không phải bốn câu dùng để tự trấn an mỗi khi gặp chuyện buồn. Chúng là đối tượng cần được thấy biết như thật. Người tu cần nhận ra khổ, đoạn trừ nguyên nhân khổ, sự diệt khổ và đưa tới sự đoạn diệt ấy.

Khi Đức Phật nói người đệ tử như lý tác ý đối với bốn sự thật, Ngài còn chỉ rõ rằng nhờ tri kiến ấy, những trói buộc căn bản như , nghi và được đoạn trừ. Đây là chiều sâu của sự chứng ngộ, không nên đồng nhất với việc chỉ nhớ được tên bốn sự thật hay suy nghĩ về chúng trong một lúc.

Như lý tác ý mở hướng cho trí tuệ, nhưng sự hiểu biết giải thoát đòi các điều kiện tu tập tương ứng. Người học bắt đầu bằng cách hướng tâm đúng theo những gì Đức Phật đã chỉ dạy, rồi tiếp tục quan sát và thực hành để sự thật ấy dần được nhận biết sâu sắc hơn.

Thấy nhân duyên là học nhận ra điều gì đang khiến khổ sinh khởi và tiếp tục#

Khi một sự việc xảy ra, chúng ta thường muốn tìm một nguyên nhân duy nhất để giải thích tất cả. Nếu điều ấy gây đau khổ, tâm càng dễ muốn quy toàn bộ trách nhiệm về một đối tượng. Nhưng nhiều trạng thái khổ nơi thân tâm không thể được hiểu đúng chỉ bằng cách chọn ra một nguyên nhân rồi dừng sự suy xét ở đó.

Đức Phật dạy các pháp nương duyên sinh khởi. Với những điều kiện tương ứng, một hiện tượng có thể sinh. Khi các điều kiện ấy chấm dứt, hiện tượng do chúng làm duyên cũng có thể chấm dứt.

Như lý tác ý giúp chúng ta hướng sự suy xét tới những mối liên hệ nhân duyên có ý nghĩa đối với việc nhận biết và đoạn trừ khổ.

Khi tâm đang bất mãn, người tu có thể nhận ra một cảm thọ khó chịu đã sinh khởi. Sự khó chịu ấy có liên hệ với tiếp xúc và những điều kiện nhận thức tương ứng. Nhưng nếu tâm tiếp tục muốn xua đuổi hoàn cảnh bằng mọi giá, hoặc muốn giữ chặt một quan điểm về bản thân, tham ái và chấp thủ có thể làm nỗi khổ tăng trưởng.

Sự quán sát cần thấy đúng các quan hệ nhân duyên ấy, không chỉ dừng ở việc nói chung rằng mọi thứ đều có nguyên nhân.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên hiểu như một sơ đồ trong đó mọi khổ đau cụ thể đều phải được giải thích bằng một chuỗi nguyên nhân đơn giản giống nhau. Có những đau đớn của thân do bệnh tật hoặc thương tích. Có những bất lợi do hoàn cảnh xã hội, hành vi của người khác và nhiều điều kiện thực tế. Những nguyên nhân ấy cần được nhìn nhận đúng theo phạm vi của chúng.

Như lý tác ý không bắt chúng ta bỏ qua những điều kiện bên ngoài để chỉ tìm một lỗi lầm trong tâm. Người bệnh cần được chăm sóc. Người đang gặp nguy hiểm cần được bảo vệ. Một việc bất công cần được giải quyết bằng những phương pháp chân chánh nếu có thể.

Nhưng đồng thời, người tu học nhận ra cách tâm tiếp tục nắm giữ, chống đối hoặc tham muốn trong khi đối diện những điều kiện ấy. Có những tổn thương không thể lập tức xóa bỏ, nhưng những hành động và chủ ý bất thiện được nuôi thêm từ tổn thương vẫn có thể được nhận biết để không tiếp tục phát triển.

Chẳng hạn, khi một kế hoạch quan trọng không thành, chúng ta cần xem xét nguyên nhân thực tế để điều chỉnh. Có thể phương pháp đã không phù hợp, hoặc những điều kiện cần thiết chưa đủ. Nhưng nếu tâm bắt đầu tự kết án rằng mọi việc về sau chắc chắn đều thất bại, sự suy xét đã chuyển sang việc nuôi dưỡng một kết luận thiếu căn cứ.

Sự nhận biết đúng sẽ phân biệt điều thực sự xảy ra với những suy diễn được thêm vào. Từ đó, chúng ta có thể học điều cần học, sửa việc cần sửa và không tiếp tục dựng lên một quan niệm cố định về bản thân từ một sự kiện hữu hạn.

Thấy nhân duyên cũng giúp người tu tránh suy nghĩ rằng các khuynh hướng bất thiện là một bản chất không thể thay đổi. Tham, sân và những trạng thái tâm khác sinh khởi tùy thuộc điều kiện. Khi điều kiện nuôi dưỡng được nhận biết, người tu có khả năng thực hành những phương pháp thích hợp để đoạn giảm chúng.

Nhưng sự thay đổi ấy không phải lúc nào cũng xảy ra tức thì. Một khuynh hướng đã được nuôi dưỡng lâu ngày có thể cần nhiều thời gian và sự thực hành bền bỉ. Người tu không nên vừa nhận ra nhân duyên rồi đòi tâm phải thanh tịnh ngay, như thể hiểu bằng suy nghĩ đã đồng nghĩa với .

Như lý tác ý giúp chúng ta chuyển từ sự than trách chung chung sang việc nhận biết những điều kiện có thể được đoạn trừ hoặc trưởng dưỡng. Chính nhờ đó, sự hiểu biết về Duyên khởi được đưa vào việc tu tập một cách thiết thực, không chỉ dừng ở một lời nhận định rằng mọi sự đều nương nhau mà có.

Như lý tác ý còn giúp nhận ra những thiện pháp cần được nuôi dưỡng#

Sự tu tập không hoàn thành chỉ bằng việc nhận biết điều bất thiện. Khi biết một trạng thái tâm đang bị tham hoặc sân chi phối, chúng ta còn cần hiểu những phẩm chất chân chánh nào có thể được phát triển để hướng tâm không tiếp tục đi theo chiều bất thiện ấy.

Đức Phật dạy như lý tác ý có vai trò quan trọng trong sự sinh khởi và tăng trưởng của các . Khi sự chú tâm được đặt đúng vào những điều kiện của Chánh niệm, trạch pháp, tinh tấn và các yếu tố khác, những phẩm chất ấy có cơ sở để được trưởng dưỡng.

Trạch pháp là khả năng xem xét, phân biệt các pháp bằng trí tuệ, nhận ra điều gì thiện hay bất thiện, đáng từ bỏ hay đáng phát triển. Phẩm chất ấy cho thấy như lý tác ý không dẫn tới một tâm trạng thụ động, chỉ cố duy trì sự yên lặng trước mọi điều. Người tu cần học phân biệt và chọn hướng tu tập phù hợp.

Có những lúc tâm đang thiếu thiện ý đối với người khác. Chúng ta có thể nhận ra sự bất mãn ấy mà chưa đủ sức buông bỏ. Nhưng nếu tiếp tục nhớ lại những chi tiết khiến người kia đáng ghét, rất dễ được tăng trưởng. Khi biết hướng sự chú tâm tới việc nhận ra sự nguy hại của sân và ý nghĩa của lòng không hại, tâm có thêm điều kiện để phát triển một hướng khác.

Điều này không buộc chúng ta phải tự nghĩ rằng người kia chưa từng gây tổn thương, hoặc mọi hành động của họ đều đáng được chấp nhận. Lòng từ không đòi phủ nhận sự thật. Nó giúp chúng ta không cố ý nuôi ý muốn làm hại, trong khi vẫn giữ khả năng bảo vệ những điều chính đáng.

Khi nhận thấy lòng ham muốn đang mạnh, sự tác ý cần đưa tâm tới những gì giúp thấy rõ tính chất bất toàn của dục lạc và sự nguy hại của chấp thủ. Việc chỉ lặp lại trong đầu rằng mình không được tham có thể chưa đủ. Người tu cần hiểu đối tượng đang được nhìn như thế nào, điều gì khiến nó có vẻ nhất thiết phải đạt được và những hậu quả nào có thể phát sinh khi cứ tiếp tục nắm giữ.

Nhờ sự suy xét thích hợp, lòng ham muốn có thể mất dần những điều kiện được nuôi dưỡng. Nhưng không nên biến điều ấy thành một phương pháp tự ép buộc phải ghê sợ mọi thứ dễ chịu. Sự tu tập cần đưa tới bằng hiểu biết, không chỉ thay sự ham muốn bằng một phản ứng chống đối khác.

Đối với Chánh niệm, như lý tác ý cũng có chức năng hỗ trợ. Khi nhận ra những điều kiện cần cho sự tỉnh thức, chúng ta biết dành sự chú tâm tới những gì giúp tâm không buông lung. Nhưng nếu đã quá mệt mỏi, việc chỉ tự trách mình thiếu Chánh niệm có thể không đem lại điều kiện cần thiết. Nghỉ ngơi phù hợp rồi trở lại thực hành đôi khi là cách ứng xử sáng suốt hơn.

Trong các lời dạy về những yếu tố giác ngộ, Đức Phật chỉ rõ sự như lý tác ý đối với các pháp thiện, bất thiện, đáng chê trách, không đáng chê trách, thấp kém và cao thượng có vai trò nuôi dưỡng trạch pháp. Đó là sự phân biệt cần được thực hành để người tu hiểu điều nào nên được tăng trưởng.

Sự chú tâm đối với những điều kiện của tinh tấn giúp nỗ lực chân chánh được phát triển. Sự chú tâm đối với những điều kiện của khinh an hỗ trợ tâm lắng dịu. Khi hướng tâm đúng tới những điều kiện an tịnh và không tán loạn, Định có cơ sở được trưởng dưỡng.

Nhưng các yếu tố ấy phải được hiểu trong tiến trình tu tập tương ứng, không nên xem như chỉ cần nghĩ đến một phẩm chất thì phẩm chất ấy lập tức xuất hiện. Như lý tác ý là điều kiện quan trọng, còn sự thành tựu cần sự phát triển đầy đủ của những pháp liên hệ.

Một người muốn có không thể chỉ tự nhận mình là người thương yêu tất cả. Họ cần nhận ra những khi sân hận khởi lên, học không tiếp tục nuôi ý muốn gây hại và thực hành những hành động thích hợp. Người muốn có trí tuệ cũng phải học hỏi, quán sát và kiểm nghiệm sự hiểu biết bằng , không chỉ hài lòng với những ý nghĩ nghe có vẻ sâu sắc.

Như lý tác ý vì vậy mở ra chiều tích cực của sự tu tập. Tâm biết nhận ra những điều đang làm khổ tăng trưởng, đồng thời học chú tâm tới những điều kiện khiến thiện pháp được sinh khởi và phát triển.

Sự chú tâm đúng chỗ phải phù hợp với điều kiện và trách nhiệm đang có#

Khi một việc cần được thực hiện, không phải lúc nào chúng ta cũng cần thêm nhiều suy nghĩ. Có những trường hợp việc cần làm đã rõ, nhưng tâm cứ tiếp tục tìm những lời giải thích khiến mình trì hoãn. Có những hoàn cảnh khác lại đòi phải dừng sự vội vàng để hiểu đủ các điều kiện trước khi hành động.

Như lý tác ý giúp sự suy xét được hướng tới điều thật sự cần thiết, thay vì trở thành một hoạt động kéo dài không có mục đích chân chánh.

Đức Phật dạy các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng nhiều phương pháp thích hợp. Có những pháp cần được đoạn trừ bằng tri kiến, có những pháp bằng phòng hộ, bằng cách sử dụng đúng những vật dụng cần thiết, bằng , , hoặc tu tập.

Sự phân biệt ấy cho thấy không phải mọi khó khăn đều được giải quyết bằng cùng một cách chú tâm. Người tu cần hiểu điều gì đang xảy ra và phương pháp nào phù hợp với tình trạng ấy.

Khi thân cần được nuôi dưỡng, việc sử dụng thức ăn có sự suy xét chân chánh giúp chúng ta nhận ra mục đích duy trì thân thể, không chỉ chạy theo sự thỏa mãn của khẩu vị. Khi dùng y phục, chỗ ở hoặc những phương tiện chăm sóc sức khỏe, chúng ta cần hiểu công dụng của chúng và sử dụng phù hợp với nhu cầu chính đáng.

Đức Phật dạy người tu suy xét đúng khi những vật dụng cần thiết, để tránh khổ do thiếu thốn và không nuôi dưỡng sự đắm say không phù hợp. Trong hoàn cảnh đời sống khác nhau, nguyên tắc ấy vẫn giúp chúng ta học cách đặt sự chú ý vào mục đích chân chánh của việc sử dụng.

Người bệnh cần điều trị. Người thiếu ngủ cần xem xét điều kiện nghỉ ngơi. Người đang đối diện nguy hiểm phải biết phòng tránh. Không nên lấy việc quán sát nội tâm làm lý do trì hoãn những trách nhiệm thực tế có thể thực hiện để chăm sóc và bảo vệ sự sống.

Có những khó khăn không thể lập tức tránh khỏi, đòi chúng ta phát triển sự kham nhẫn. Nhưng kham nhẫn không có nghĩa chấp nhận mọi sự xâm hại hoặc từ chối sự hỗ trợ khi đang gặp nguy hiểm. Sự chịu đựng cần được hiểu trong những trường hợp thích hợp, nơi người tu có thể giữ tâm không bị điều bất thiện chi phối khi đối diện các điều kiện khó tránh.

Đối với những nguy hiểm có thể tránh được, Đức Phật cũng chỉ dạy sự tránh né thích hợp. Điều ấy làm sáng một khía cạnh quan trọng của như lý tác ý: biết rời khỏi một điều kiện bất lợi có thể là trí tuệ, không nhất thiết là sự yếu đuối.

Nếu đang có cuộc tranh cãi khiến hai bên mất khả năng lắng nghe và nguy cơ bạo lực tăng lên, việc tạm ngừng và tìm cách giải quyết an toàn có thể cần thiết. Nhưng khi có trách nhiệm bảo vệ người khác, chúng ta không nên viện lý do tránh phiền não để bỏ mặc nguy hiểm đang tiếp diễn.

Sự suy xét đúng không được quyết định chỉ bằng mong muốn bản thân bớt khó chịu. Nó cần thấy rõ điều gì chân chánh và những trách nhiệm nào đang có trong hoàn cảnh thực tế.

Có khi chúng ta biết một việc sai đã xảy ra và cần sửa. Nếu tâm chỉ chăm chú vào cảm giác xấu hổ, sự suy nghĩ có thể kéo dài mà hành động cần thiết vẫn chưa được thực hiện. Khi biết hướng sự chú tâm tới trách nhiệm cụ thể, chúng ta có cơ hội nhận lỗi, tìm cách khắc phục và học không tái phạm.

Tuy vậy, không nên biến như lý tác ý thành một phương pháp tính toán để mọi hành động đều đem lại kết quả như mong muốn. Nhiều điều kiện nằm ngoài khả năng kiểm soát của chúng ta. Một việc chân chánh vẫn có thể gặp trở ngại, và sự cẩn trọng không bảo đảm mọi hậu quả bất lợi đều được ngăn hết.

Điều người tu có thể phát triển là sự hiểu biết về những gì đang cần được thực hiện, những điều kiện mình có thể tác động và những hướng bất thiện cần tránh nuôi dưỡng.

Nhờ vậy, như lý tác ý không bị giới hạn trong những lúc ngồi yên suy nghĩ về giáo pháp. Nó có thể hỗ trợ sự lựa chọn và hành động trong đời sống, miễn sự chú tâm vẫn được dẫn dắt bởi Chánh pháp và hướng tới việc giảm những nguyên nhân của khổ.

Từ sự nhận biết đang có đến khả năng hiểu điều gì thật sự đáng được chú tâm#

Trong quá trình tu tập, chúng ta cần biết tâm đang ở trạng thái nào. Nếu sân đang có mặt, phải nhận ra sân. Nếu tâm đang tán loạn, cần biết sự tán loạn ấy. Nếu lòng tham xuất hiện, người tu không nên cố che giấu nó bằng một hình ảnh bình an do mình tưởng tượng.

Sự nhận biết trung thực ấy rất quan trọng. Nhưng sau khi đã biết một trạng thái đang hiện diện, sự thực hành còn cần hiểu phải chú tâm thế nào để không tiếp tục nuôi bất thiện và để thiện pháp có điều kiện sinh khởi.

Chánh niệm và như lý tác ý hỗ trợ nhau ở chính điểm này.

Khi Chánh niệm được thực hành, chúng ta có điều kiện không quên đối tượng tu tập và nhận biết những trạng thái thân tâm đang diễn ra. Như lý tác ý giúp sự chú tâm được hướng tới những điều đáng được quán sát theo Chánh pháp. Sự khác biệt về chức năng không khiến hai pháp tách rời trong thực hành.

Một trạng thái sân có thể được nhận ra, nhưng nếu ngay sau đó tâm dành toàn bộ sức để tìm thêm những lý do khiến người khác đáng ghét, việc nhận ra sân chưa đủ làm sân giảm bớt. Người tu cần hướng sự chú tâm tới tính chất bất thiện của sân, những điều kiện đang nuôi dưỡng nó và những phẩm chất không hại có thể được phát triển.

Ngược lại, khi sự bình tĩnh đã có mặt, chúng ta cũng không nên chỉ dừng ở việc thích thú với cảm giác dễ chịu. Tâm cần được tiếp tục tu tập, để sự an trú trở thành điều kiện thuận lợi cho trí tuệ, chứ không biến thành một đối tượng mới để tham đắm.

Nhưng điều này không có nghĩa lúc nào cũng phải phân tích trạng thái tâm bằng lời. Có những hoàn cảnh sự thực hành thích hợp là nhận biết rõ ràng và giữ tâm an trú trên đối tượng đang được tu tập. Nếu liên tục đặt thêm câu hỏi bằng suy nghĩ, chúng ta có thể làm sự định tĩnh bị gián đoạn.

Như lý tác ý không đồng nhất với việc phải suy luận không ngừng. Khi biết một phương pháp thích hợp đang giúp tâm an trú và các pháp bất thiện giảm bớt, người tu có thể tiếp tục thực hành mà không cần thêm nhiều lời giải thích.

Đối với người mới học, việc phân biệt những trạng thái của tâm có thể chưa dễ dàng. Một cảm giác dễ chịu đôi khi được xem là dấu hiệu chắc chắn mình đã tu đúng. Một sự khó chịu trong lúc quán sát có thể khiến người ấy tưởng rằng phương pháp hoàn toàn sai. Nhưng những kết luận ấy cần được xem xét trong mối liên hệ với nhiều điều kiện khác.

Sự tu tập có thể làm chúng ta nhận ra những phiền não trước đây ít được chú ý. Việc thấy rõ bất thiện đang có không đồng nghĩa bất thiện vừa được tạo ra bởi sự quan sát. Đồng thời, nếu một cách thực hành khiến tâm liên tục căng thẳng hoặc mất khả năng sinh hoạt bình thường, cần biết xem xét lại phương pháp và tìm sự hướng dẫn thích hợp.

Người tu không nên lấy những cảm giác bất thường làm bằng chứng tự động của trí tuệ. Giá trị của pháp hành cần được nhận biết qua sự phù hợp với Chánh pháp và khả năng hỗ trợ việc từ bỏ bất thiện, trưởng dưỡng thiện pháp.

Việc học hỏi với có ý nghĩa trong hoàn cảnh ấy. Chúng ta có thể lầm tưởng một trạng thái do tham ái chi phối là sự tinh tấn, hoặc xem sự cố chấp vào một quan điểm là lòng tin vững chắc. Khi được hướng dẫn đúng, người tu có thêm điều kiện nhận ra những sai lệch trong cách chú tâm.

Nhưng sự hướng dẫn cũng cần giúp khả năng tự quan sát và hiểu pháp được phát triển, thay vì khiến người học chỉ lệ thuộc vào lời đánh giá của người khác.

Qua thời gian, như lý tác ý có thể trở thành một nếp suy xét sáng suốt hơn. Chúng ta nhận biết điều đang có, thấy hướng nào đang nuôi dưỡng khổ và hiểu điều gì cần được tu tập. Sự hiểu biết ấy không nhất thiết tạo ra một cảm giác đặc biệt trong mỗi lần thực hành. Nó được thể hiện trong cách tâm ngày càng ít tán thành những hướng bất thiện và có thêm khả năng phát triển Chánh pháp.

Khi sự chú tâm được đặt đúng chỗ, trí tuệ có điều kiện thấy ra con đường đoạn khổ#

Chúng ta không thể ngăn mọi sự việc trái ý xuất hiện trong đời sống. Thân vẫn có thể bệnh, những điều kiện quý trọng vẫn thay đổi, và người khác vẫn có những quyết định không thuận theo mong muốn của mình. Nhưng giữa những điều ấy, cách tâm hướng tới thực tại có thể được tu tập.

Nếu chỉ chăm chú tìm cách bảo đảm rằng những gì mình yêu thích sẽ không bao giờ mất, chúng ta có thể tiếp tục đặt sự an ổn vào những điều vốn chịu biến đổi. Nếu chỉ tìm một đối tượng để trách móc khi khổ xuất hiện, những nguyên nhân sâu xa khiến tâm bị trói buộc có thể không được nhận ra.

Đức Phật dạy như lý tác ý để người tu biết hướng sự chú tâm tới những điều cần được hiểu theo con đường đoạn khổ. Ngài không xem sự giải thoát là kết quả của việc suy nghĩ thật nhiều về bất cứ đề tài nào. Sự chú tâm phải được đặt vào các pháp thích hợp, và sự quán sát phải được dẫn dắt bởi Chánh kiến.

Bởi vậy, người tu không chỉ học nhận ra những trạng thái tâm đang có. Chúng ta còn học hiểu điều gì khiến tham, sân và vô minh được nuôi dưỡng, điều gì hỗ trợ sự đoạn trừ và những thiện pháp nào cần được phát triển.

Khi một cảm giác dễ chịu xuất hiện, sự nhận biết có thể được tiếp tục mà không nhất thiết đi tới tham ái. Khi một điều khó chịu có mặt, chúng ta có thể tìm cách ứng xử chân chánh mà không chủ động nuôi thêm sân hận. Khi một quan điểm được hình thành, người tu có thể suy xét căn cứ của nó thay vì lập tức nắm giữ như một phần không thể tách rời của bản thân.

Những sự thực hành ấy không xóa bỏ mọi trách nhiệm trong đời sống. Chúng giúp trách nhiệm được thực hiện bằng sự sáng suốt hơn, không nhất thiết phải đi cùng lòng hơn thua hoặc ý muốn kiểm soát tất cả.

Như lý tác ý còn giúp chúng ta nhận ra sự khác biệt giữa việc biết một giáo lý bằng khái niệm và việc thật sự thấy biết điều ấy. Có người hiểu rằng các pháp nhưng vẫn xem điều mình yêu thích phải tồn tại mãi theo ý muốn. Có người nói nhiều về Duyên khởi nhưng khi gặp khó khăn lại xem một trạng thái tâm là bản chất cố định của mình.

Sự hiểu biết ấy chưa cần bị phủ nhận hoàn toàn, nhưng nó vẫn phải được tiếp tục đào sâu bằng pháp hành.

Khi chú tâm đúng vào khổ, người tu học nhận ra bản chất của những pháp đang bị chấp thủ. Khi thấy nguyên nhân khổ, chúng ta biết điều gì cần được đoạn trừ. Khi hiểu sự đoạn diệt khổ, tâm không còn chỉ tìm một cách xoa dịu tạm thời, mà bắt đầu hướng tới việc chấm dứt những nhân duyên trói buộc. Và khi biết có con đường đưa tới khổ diệt, chúng ta có cơ sở tiếp tục tu tập các yếu tố chân chánh.

Nhưng bốn sự thật ấy không nên chỉ được dùng như một trình tự suy nghĩ bằng lời. Chúng cần được chứng nghiệm bằng trí tuệ. Sự thấy biết như thật không thể được thay thế bằng niềm tin rằng mình đã hiểu sâu chỉ vì có thể giải thích các giáo lý bằng ngôn từ.

Đức Phật đặt như lý tác ý trong mối liên hệ trực tiếp với việc đoạn trừ lậu hoặc. Đây là một hướng đi có chiều sâu giải thoát, không phải kỹ thuật đơn giản để mọi cảm xúc khó chịu lập tức biến mất.

Người có thể thực hành ngay khi đối diện những việc trong đời sống thường ngày. Có việc cần giải quyết bằng một quyết định thực tế. Có điều cần suy xét để hiểu những nhân duyên đang sinh khởi. Có trạng thái bất thiện cần được nhận diện và không tiếp tục nuôi dưỡng. Cũng có những thiện pháp cần được thường xuyên chú tâm để phát triển.

Sự khác biệt giữa các hoàn cảnh ấy đòi trí tuệ và khả năng học hỏi. Một vấn đề chưa rõ cần được tìm hiểu. Một trách nhiệm đã nhận ra cần được thực hiện. Một trạng thái tâm đang được nuôi theo hướng bất thiện cần được xem xét đúng theo pháp, không chỉ để thỏa mãn thói quen suy nghĩ của mình.

Nhưng người tu cũng phải biết những giới hạn của sự suy xét. Khi tâm liên tục tự hỏi mà không đi tới điều gì có thể được hiểu hoặc thực hành, việc tiếp tục xoay quanh những ý nghĩ ấy chưa chắc đem lại trí tuệ. Có lúc cần trở về với sự tỉnh thức, có lúc cần học hỏi thêm, và có lúc cần thực hiện điều chân chánh đã nhận biết.

Từ việc đặt sự chú tâm đúng chỗ, Chánh kiến có thêm điều kiện được phát triển. Khi hiểu biết đúng, người tu lại càng có cơ sở để nhận ra những điều cần tác ý. Sự hỗ trợ qua lại ấy giúp việc học và thực hành không tách rời khỏi mục đích đoạn khổ.

Dần dần, chúng ta nhận ra rằng điều làm tâm được giải thoát không nằm ở khả năng luôn nghĩ ra một lời giải thích khiến bản thân dễ chịu. Trí tuệ đòi thấy đúng các pháp, nhận ra những gì đang bị chấp giữ và tu tập con đường đoạn trừ những nguyên nhân của khổ.

Một sự việc đã xảy ra không thể được thay đổi chỉ bằng cách nhớ lại nó nhiều lần. Nhưng khi chúng ta biết hướng sự chú tâm tới các nhân duyên đang hiện diện, những điều cần từ bỏ và những thiện pháp đáng phát triển, sự suy xét có thể trở thành một phần chân chánh của pháp hành.

Sự chú tâm được đặt đúng chỗ không chỉ làm suy nghĩ thêm phong phú. Nó giúp chúng ta nhận ra điều gì đang nuôi khổ, điều gì cần được từ bỏ và việc gì thật sự đáng được tiếp tục.