CHƯƠNG 55
Tứ như ý túc
Dục, tinh tấn, tâm và quán trong năng lực tu tập
Khi ý nguyện còn đó nhưng tâm chưa có sức đi đến cùng#
Chúng ta có thể nhớ rất rõ lý do mình bắt đầu , trong khi sự chú ý đã rời khỏi từ lúc nào không hay. Ban đầu, lòng muốn học hiểu rất chân thành. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, tâm đã bị kéo theo những việc đang mong đợi, những lời vừa nghe hoặc nỗi bận lòng chưa giải quyết. Có hôm sự cố gắng vẫn mạnh, song chính ý muốn phải tiến bộ ngay khiến chúng ta thêm căng thẳng. Có hôm tâm yên hơn, nhưng sự yên ấy lại đi cùng thiếu sức nhận biết, đến mức đối tượng đang quán sát cũng trở nên mờ nhạt. Những khác biệt như vậy cho thấy ý muốn tu tập, sức nỗ lực và khả năng an trú không tự nhiên trở thành một việc chỉ vì chúng ta đã quyết tâm.
Đức Phật chỉ dạy bốn để người tu phát triển những nền tảng làm cho sự tu tập có sức thành tựu. Đó là dục, , tâm và quán. Những tên gọi ngắn gọn này cần được hiểu trong mối liên hệ với định và sự tạo tác của tinh cần. Nếu chỉ nghe bốn từ ấy rồi nghĩ rằng cứ muốn, cố gắng, tập trung và suy xét là đủ, chúng ta dễ biến pháp tu sâu sắc thành lời khuyên thông thường. Trong kinh, mỗi như ý túc được trình bày như một nền tảng đưa đến định, được hỗ trợ bởi những nỗ lực cần thiết để đoạn bất thiện và phát triển .
Điều chúng ta cần hiểu trước hết là ý nghĩa của sự thành tựu. Trong đời sống, một việc hoàn thành có thể được gọi là thành công, nhưng mục đích của Phật pháp không được đo bằng khả năng khiến mọi mong muốn thế tục thành sự thật. Bốn như ý túc được tu tập nhằm phát triển năng lực định và những điều kiện đưa tới , đoạn diệt, an tịnh và . Kinh điển còn ghi nhận các năng lực đặc biệt có thể liên hệ với sự tu tập sung mãn những pháp ấy. Nhưng điều đó không cho phép hiểu rằng cứ mong điều gì mãnh liệt thì sự việc bên ngoài phải xảy ra theo ý mình. Cũng không có căn cứ để lấy những điều được người khác đồn kể làm thước đo chắc chắn cho thành tựu giải thoát.
Sự tu tập chân chánh đòi chúng ta nhìn vào những đang được thực hiện. Nếu lòng muốn học pháp không dẫn tới việc dành thời gian học và quán sát, ý muốn vẫn chỉ ở mức dự định. Nếu tinh tấn liên tục đẩy tâm vào mệt mỏi, chúng ta cần xét lại cách sử dụng sức. Nếu chỉ mong tâm tập trung mà không phòng hộ những điều kiện làm phóng dật tăng trưởng, sự an trú khó vững. Và nếu suy xét mãi nhưng không thực hành, những điều hiểu bằng lời có thể chưa chạm tới kinh nghiệm sống.
Bốn như ý túc không phải bốn tính cách để chúng ta tự lựa chọn một rồi bỏ ba điều còn lại. Trong một thời điểm, một yếu tố có thể nổi bật làm chỗ nương cho định, nhưng sự tu tập vẫn có quan hệ với những yếu tố khác và các tinh cần hành. Lòng mong học đúng pháp cần được hướng dẫn bằng trí tuệ. Tinh tấn cần có đối tượng và cách điều hòa. Tâm cần được phát triển để có khả năng nhất hướng. Sự thẩm sát phải biết dừng ở điều có căn cứ, không biến thành suy nghĩ lan man. Nhìn như vậy, chúng ta thấy bốn nền thành tựu cùng phục vụ một công việc: làm cho tâm có đủ điều kiện để tu tập đến nơi đến chốn.
Một người có thể sống nhiều năm với những ước nguyện tốt đẹp nhưng vẫn thấy mình bị cùng một thói quen chi phối. Điều ấy không nhất thiết chứng minh ước nguyện ban đầu là giả dối. Có thể những điều kiện giúp thiện pháp hình thành chưa được chăm sóc đầy đủ, hoặc cách cố gắng chưa phù hợp với trạng thái tâm. Đức Phật dạy pháp hành theo nhân duyên. Vì vậy, thay cho việc chỉ lặp lại lời mong muốn, chúng ta học nhận ra những điều kiện cần phát triển. Nhờ đó, sự an trú có thể sinh khởi và hỗ trợ trí tuệ. Sức của người tu nằm ở khả năng thực hiện đúng các điều kiện ấy, chứ không ở một lời tuyên bố rằng mình chắc chắn sẽ đạt điều mong cầu.
Dục như ý túc: Ý muốn chân chánh có thể đưa tâm đến định#
Chữ dục dễ khiến chúng ta liên tưởng ngay đến , bởi phần lớn những ham muốn quen thuộc đều hướng tới điều dễ chịu. Nhưng Đức Phật không dùng mọi hình thức của sự mong muốn theo cùng một nghĩa. Lòng đắm nhiễm đối với khoái lạc và ý muốn chân chánh nhằm học pháp, từ bỏ bất thiện là những trạng thái cần được phân biệt. Nếu cho rằng hễ còn muốn tu tập là còn tham ái nên phải dập tắt mọi ý muốn, chúng ta đã làm mất một điều kiện quan trọng của sự thực hành.
là nền tảng trong đó ý muốn thực hành đúng pháp làm duyên cho định và , đi cùng các tinh cần hành. Khi một người thật sự thấy giá trị của việc sống không gây hại, ý muốn bảo hộ thân khẩu có thể trở nên vững vàng. Khi nhận ra lợi ích của , lòng muốn học thực hành có thể giúp người ấy thường xuyên trở lại với đối tượng đã chọn. Ý muốn như vậy không chỉ là thích một kết quả ở tương lai. Nó hướng sự chú ý vào việc thiện cần thực hiện ngay hiện tại.
Nhưng chỉ có lòng muốn chưa đủ để gọi là dục như ý túc đã được tu tập đúng mức. Đức Phật nói đến dục định, tức sự an trú và nhất tâm dựa trên ý muốn ấy. Ngài còn nói tới những nỗ lực nhằm , , làm sinh thiện chưa có và nuôi dưỡng thiện đã sinh. Bởi vậy, ý muốn cần được đưa vào tiến trình định tâm và tinh tấn. Nó vượt khỏi cảm giác nhiệt tình vừa xuất hiện khi nghe một lời dạy sâu sắc.
Sự phân biệt này có thể được nhận ra trong lúc chúng ta học một pháp chưa hiểu. Nếu thật lòng muốn thấy rõ , chúng ta sẽ kiên nhẫn lắng nghe, suy xét đúng đề mục và trở lại quán sát khi thấy mình chưa hiểu. Nhưng nếu ý muốn ấy chuyển thành đòi hỏi rằng mình phải hiểu ngay, phải nói giỏi hơn người khác, hoặc phải được công nhận là đã , hướng tâm đang thay đổi. Lúc ấy, sự ham thích thành tựu có thể trở thành chỗ cho và phóng động phát triển.
Đức Phật còn chỉ dạy phải điều hòa ngay chính ý muốn tu tập. Khi dục quá thụ động, nó đi cùng biếng nhác. Khi quá hăng say, nó có thể đi cùng trạo cử. Khi co rút, nó bị hôn trầm thụy miên chi phối, khi tán ra ngoài, nó có thể bị các dục lạc kéo đi. Những phân biệt ấy rất thực tế. Một người có thể nói mình muốn tu tập nhưng luôn trì hoãn. Người khác lại mong thành tựu quá mạnh, đến mức tâm không yên trên đối tượng. Cả hai đều cần xem lại chất lượng của ý muốn, thay vì chỉ tìm cách làm cho nó mạnh hơn.
Có một câu hỏi sâu sắc từng được nêu ra trong giáo pháp: nếu mục đích là chấm dứt dục, tại sao lại phải dựa vào dục để tu tập? Đức Phật đã để Tôn giả A Nan giải thích bằng một điều rất gần gũi. Trước khi đến một nơi, chúng ta có ý muốn đi tới đó và nỗ lực thực hiện. Khi đã đến nơi, ý muốn đi đến ấy có thể lắng xuống, bởi công việc đã hoàn thành. Cũng vậy, ý muốn tu tập là một điều kiện trên đường thực hành. Khi mục đích giải thoát đã thành tựu, ý muốn hướng tới sự chứng đạt ấy không còn cần tiếp tục như trước.
Đây là một chỗ cần hiểu thật kỹ. Ý muốn thiện không phải một tự ngã phải được giữ mãi. Nó cũng không phải tham ái được đổi tên để trở thành điều đáng ca ngợi. Giá trị của nó nằm ở chức năng dẫn tâm tới việc thực hành chân chánh. Khi điều cần làm chưa được thực hiện, ý muốn đúng giúp chúng ta không buông lung. Khi đã đạt mục đích tương ứng, tâm không cần tiếp tục nắm giữ chính sự mong cầu như một tài sản.
Vì vậy, việc nuôi dưỡng dục như ý túc bắt đầu từ sự rõ ràng về điều mình đang hướng tới. Chúng ta muốn học đúng để bớt si mê, muốn giữ giới để ngừng gây hại và muốn phát triển định để trí tuệ có điều kiện sinh khởi. Ý muốn ấy được kiểm chứng qua việc có thực sự giúp tâm an trú và thúc đẩy các tinh cần hành hay không. Nếu chỉ khiến tâm nóng ruột, so sánh và tự đề cao, chúng ta cần điều chỉnh. Dục như ý túc được trưởng dưỡng khi lòng muốn đúng pháp có đủ sức nâng đỡ sự thực hành, mà không biến thành một sự khát cầu đòi kết quả theo ý mình.
Tinh tấn như ý túc: Sức bền của tâm phải đi cùng khả năng an trú#
Có sự cố gắng càng kéo dài càng khiến tâm mệt mỏi. Chúng ta dành nhiều sức để chống lại mọi ý nghĩ, bực mình khi và muốn mỗi thời khóa phải tốt hơn thời khóa trước. Một kiểu cố gắng khác lại quá yếu, chỉ cần gặp chút khó khăn đã buông bỏ. Cả hai đều cho thấy sức nỗ lực cần được rèn luyện, bởi việc sử dụng nhiều hay ít năng lượng chưa đủ nói lên tính chất chân chánh của tinh tấn.
Trong bốn như ý túc, tinh tấn là nền tảng nơi năng lực nỗ lực được phát triển đến mức hỗ trợ định và nhất tâm. Đức Phật dạy tinh tấn định đi cùng tinh cần hành. Điều này làm rõ chức năng riêng của pháp ấy. Sự bền bỉ phải hỗ trợ tâm an trú, không để việc tu tập liên tục bị bỏ dở vì lười nhác hoặc bị xô lệch bởi hăng hái thiếu điều hòa.
Những nỗ lực cần thiết đã được Đức Phật trình bày trong . Pháp bất thiện chưa sinh cần được ngăn ngừa, bất thiện đã sinh cần được đoạn trừ, thiện chưa sinh cần được phát khởi, và thiện đã có cần được nuôi dưỡng đến viên mãn. Nhưng ở đây, chúng ta cần nhận rõ một chiều khác. Khi tinh tấn trở thành nền cho định, năng lực nỗ lực hỗ trợ sự nhất hướng và tính liên tục của tâm. Nó được nuôi dưỡng cả khi chưa có chướng ngại nổi bật cần sửa.
Một người có thể rất chăm chỉ trong sinh hoạt mà vẫn khó an trú khi hành thiền. Họ quen giải quyết nhiều việc liên tiếp và cảm thấy bất an khi phải ở lại với một đối tượng. Kinh nghiệm ấy nhắc chúng ta rằng nỗ lực đời thường không tự động là tinh tấn định. Sự cố gắng trong pháp hành cần được hướng đúng đối tượng, có Chánh niệm và điều hòa để không làm tâm thêm phóng dật.
Khi tu tập, có lúc chúng ta nhận ra tâm muốn bỏ cuộc vì chưa thấy tiến bộ. Chính ở đây tinh tấn cần có sức bền. Người tu tiếp tục hành trì bằng khả năng hiện có, học nhận ra những điều kiện làm sự nhớ biết suy giảm và điều chỉnh phương pháp thích hợp. Sự kiên trì không đòi phải phủ nhận mệt mỏi thật của thân. Nếu thiếu ngủ hoặc đang bệnh, nghỉ ngơi và chăm sóc đúng mức có thể là điều kiện giúp tâm tiếp tục thực hành. Việc ép thân kiệt sức rồi gọi đó là thắng lợi trước biếng nhác không phù hợp với tinh tấn được dẫn dắt bằng trí tuệ.
Có những khi tinh tấn mạnh lại đi cùng ý muốn cưỡng ép cảm thọ. Chúng ta muốn sự khó chịu phải mất đi ngay, muốn hơi thở thật nhẹ và tâm không được suy nghĩ. Nhưng các vận hành tùy điều kiện. Nếu thay vì chăm sóc điều kiện, chúng ta liên tục ra lệnh cho kinh nghiệm phải đổi khác, sức nỗ lực có thể trở thành nguyên nhân làm tâm căng thẳng. Tinh tấn chân chánh giúp duy trì và điều chỉnh pháp hành, không biến một kết quả chưa có thành điều bắt buộc phải xảy ra tức khắc.
Một phép kiểm chứng thiết thực là xem sau khi nỗ lực, khả năng an trú có được hỗ trợ không. Chúng ta có bớt bỏ dở chỉ vì một trở ngại nhỏ không? Khi phóng tâm, sự trở lại có sáng rõ hơn hay kèm thêm với chính mình? Sự tinh tấn có làm những pháp bất thiện suy yếu, thiện pháp lớn mạnh và tâm ổn định hơn không? Những câu hỏi ấy giúp phân biệt sức bền chân chánh với thói quen tự gây áp lực.
Tinh tấn định không lấy thành tích làm nơi nương tựa. Khi pháp hành tiến triển, người tu vẫn cần tiếp tục gìn giữ các điều kiện. Khi gặp sự gián đoạn, sự cố gắng được khởi lên đúng lúc và đúng mức. Qua nhiều lần thực hành, sức nỗ lực trở nên ít lệ thuộc hơn vào cảm hứng nhất thời. Tâm có thể ở với đối tượng một cách bền bỉ. Sự bền bỉ ấy được điều chỉnh bằng và , để định phát triển mà không trở thành một ý chí cứng nhắc.
Tâm như ý túc: Một tâm hướng trọn vào pháp hành mà không bị chia kéo#
Khi sự chú ý liên tục bị chia giữa nhiều điều, chúng ta có thể vẫn nhớ mục đích chính nhưng không còn thực sự ở với nó. Đang nghe pháp, tâm chuẩn bị sẵn điều muốn phản bác. Đang quán hơi thở, chúng ta chờ xem một cảm giác đặc biệt có xuất hiện không. Đang lắng nghe người khác, sự chú ý đồng thời tính toán lời đáp. Sự chia kéo ấy làm giảm khả năng tiếp nhận điều đang hiện diện, dù bên ngoài chúng ta vẫn thực hiện công việc như thường.
liên hệ tới định và nhất tâm được phát triển trên nền tâm. Trong chánh văn, Đức Phật nói đến tâm định đi cùng các tinh cần hành. Chữ tâm ở đây cần được hiểu trong pháp hành, nơi sự hướng tâm và khả năng nhất hướng trở thành chỗ nương cho định. Nó không chỉ có nghĩa là chúng ta có một tâm trí, bởi mọi người đều có tâm mà không phải mọi lúc đều có định. Cũng không có một chủ thể tinh thần bất biến đứng bên trong để tự mình điều khiển các pháp.
Điều cần nhận ra là chất lượng của sự hướng tâm. Khi một đối tượng tu tập thích hợp đã được chọn, tâm có thể được rèn luyện để ở lại với đối tượng ấy một cách rõ ràng. Sự an trú này khác với trạng thái bị một ham muốn cuốn đi đến mức quên mọi điều khác. Lòng tham cũng có thể khiến con người chú ý rất lâu vào một đối tượng, nhưng sự đắm nhiễm ấy không phải tâm định chân chánh. Tính chất của pháp được nương theo và sự có mặt của những điều kiện thiện lành phải được xét đến.
Chúng ta có thể thấy sự khác biệt trong lúc ngồi yên. Có khi hơi thở được nhận biết tự nhiên, tâm không liên tục đi tìm điều khác. Sự chú ý ổn định giúp việc quan sát trở nên đầy đủ hơn. Nhưng cũng có khi tâm dồn sức vào một mong đợi, cứ kiểm tra xem mình sắp đạt trạng thái nào. Bề ngoài cả hai có vẻ đều tập trung, song trường hợp thứ hai đang bị sự mong cầu làm lệch hướng. Tâm định cần được nhận ra theo khả năng an trú chân chánh, không chỉ theo cường độ chú ý.
Việc phát triển tâm như ý túc đòi sự liên tục phù hợp giữa các thời khóa. Nếu chúng ta ngồi thiền với sự chú ý nghiêm túc nhưng thường xuyên chủ động nuôi phóng dật trong sinh hoạt, việc an trú sẽ gặp thêm khó khăn. Giữ giới, và Chánh niệm khi làm những việc cần thiết có thể hỗ trợ tâm bớt bị kéo ra ngoài. Nhưng sự ứng dụng ấy không có nghĩa mọi hoạt động thường ngày phải được thực hiện bằng trạng thái định sâu như khi chuyên thiền.
Một khó khăn tế nhị là người tu dễ muốn giữ sự yên ổn như một vật sở hữu. Khi tâm đã được an trú, chúng ta có thể thích sự nhẹ nhàng ấy đến mức sợ bất cứ thay đổi nào. Nếu lòng nắm giữ sinh khởi, nó cũng cần được nhận biết. Tâm như ý túc nhằm phát triển năng lực định chân chánh. Định hỗ trợ pháp hành và trí tuệ, không biến một kinh nghiệm an ổn thành danh hiệu chứng đạt.
Tâm cũng cần được nhận ra trong những giới hạn thực tế. Khi thân mệt, sự chú ý có thể yếu đi. Khi có việc khẩn cấp, người tu phải chuyển sự chú ý để xử lý an toàn. Khả năng định được phát triển không khiến chúng ta trở nên thờ ơ với hoàn cảnh. Điều quan trọng là biết khi nào cần an trú nơi đối tượng, khi nào phải đáp ứng trách nhiệm. Những suy tưởng chỉ làm tâm phân tán không cần được tiếp tục nuôi dưỡng.
Nhờ học hướng tâm đúng, chúng ta có thể thấy sự khác biệt giữa chỉ mong thực hành và thực sự có năng lực ở lại với pháp hành. Ý muốn tạo động lực, tinh tấn duy trì sự cố gắng, nhưng tâm định đem lại một sự nhất hướng cần thiết. Khi sự nhất hướng ấy được nuôi dưỡng đúng, đối tượng tu tập bớt bị thay thế bởi những điều vừa ý thoáng qua. Trí tuệ vì vậy có thêm điều kiện phát triển.
Quán như ý túc: Thẩm sát để sự thực hành không bị dẫn đi bởi tưởng tượng#
Trong khi tu tập, một kinh nghiệm dễ chịu có thể xuất hiện rồi biến mất. Nếu không khéo suy xét, chúng ta dễ tưởng niềm dễ chịu ấy là bằng chứng đã đạt định sâu. Một thời gian khác, tâm có vẻ ít suy nghĩ, nhưng thực ra sự đang suy giảm. Nếu chỉ tin cảm giác chủ quan hoặc những ý nghĩa mình gán cho kinh nghiệm, việc tu tập có thể đi lệch mà chúng ta không nhận ra.
là nền tảng nơi sự thẩm sát, suy xét đúng pháp làm duyên cho định và nhất tâm, đi cùng những tinh cần hành. Trong các bản kinh, yếu tố này còn được dịch là tư duy. Nhưng tư duy ở đây cần được hiểu theo chức năng khảo sát có trí, không phải để tâm liên tục phát triển những câu chuyện và suy luận thiếu căn cứ. Sự thẩm sát giúp người tu biết điều gì đang xảy ra, pháp nào đang được thực hành và những điều kiện nào đưa tới an trú.
Điều đó khác với việc đem mọi khoảnh khắc thiền tập ra phân tích bằng lời. Khi tâm đang có khả năng ở yên và nhận biết đối tượng rõ ràng, sự suy nghĩ liên tục có thể làm mất định. Quán như ý túc không khuyến khích tìm kiếm thêm câu trả lời chỉ để thỏa mãn sự tò mò. Sự suy xét cần được sử dụng đúng lúc, để soi rõ điều còn mơ hồ và hỗ trợ sự tu tập chân chánh.
Giả sử khi ngồi hành thiền, sự chú ý liên tục bị kéo theo những dự tính. Chúng ta cần nhận ra tâm đang phóng tán và xem những điều kiện nào khiến việc ấy tiếp tục. Có thể trước thời khóa, mình đã cố ý nuôi nhiều suy tưởng hoặc chưa giải quyết một việc khẩn cấp. Sự xét biết giúp chúng ta điều chỉnh điều có thể điều chỉnh, rồi trở lại với đối tượng. Nhưng nếu sau đó vẫn liên tục tự phân tích vì sao mình phóng tâm, chính việc phân tích có thể trở thành một hướng phân tán mới.
Sự thẩm sát đúng cần phân biệt giữa một trạng thái thiện và một trạng thái chỉ có vẻ thuận lợi. Sự yên lặng do buồn ngủ khác với tâm an trú sáng rõ. Hứng thú nhất thời trước một pháp thoại khác với lòng muốn tu tập có đủ sức đưa đến thực hành. Sự tập trung vì lòng hơn thua cũng không thể được xem giống . Nhờ khảo sát theo giáo pháp, người tu có khả năng sửa những nhận định sai trước khi chúng trở thành sự tự mãn hoặc những phương pháp thiếu thích hợp.
Nhưng khi đã hiểu điều cần sửa, quán như ý túc phải hỗ trợ hành động thực tế. Biết mình đang dùng sức quá căng mà vẫn cố ép tâm thì sự xét biết chưa đi tới chức năng cần thiết. Nhận ra một phương pháp thiếu phù hợp mà không chịu tìm hiểu đúng cách, việc suy nghĩ cũng chưa tạo điều kiện cho định. Chúng ta cần thực hiện những thay đổi tương ứng, rồi quan sát bằng Chánh niệm xem pháp hành có trở nên sáng rõ và ổn định hơn không.
Sự thẩm sát không cho phép chúng ta tự suy diễn về mọi cảnh giới hoặc thành tựu. Một cảm giác bất thường nơi thân có thể có nhiều điều kiện, nó không tự động chứng minh có năng lực đặc biệt. Một giấc mơ hoặc kinh nghiệm xúc động mạnh không đủ làm căn cứ xác nhận chứng ngộ. Người tu cần biết giới hạn của điều mình thật sự nhận biết, đối chiếu với lời dạy đáng tin cậy và tránh vội dựng những kết luận nuôi ngã mạn.
Khi quán như ý túc được nuôi dưỡng đúng, chúng ta có khả năng phát triển định trên nền hiểu biết. Sự suy xét giúp nhận ra điều cần giữ, điều cần bỏ và mức nỗ lực thích hợp. Rồi khi các điều kiện đã được đặt đúng, tâm có thể ở lại với đối tượng thay vì liên tục hỏi thêm một câu mới. Như vậy, thẩm sát và an trú hỗ trợ nhau, để trí tuệ không bị thay thế bằng suy đoán và định không trở thành một sự im lặng thiếu hiểu biết.
Bốn nền thành tựu liên hệ với nhau ra sao trong một pháp hành#
Một thời khóa hành thiền có thể bắt đầu bằng lòng muốn thực hành rất rõ. Chúng ta chọn đối tượng, ngồi vào nơi thích hợp rồi phát khởi nỗ lực. Nhưng sau một lúc, sự chú ý mất ổn định và tâm chuyển sang mong chờ kết quả. Nếu biết thẩm sát đúng, chúng ta nhận ra sự mong cầu đang khiến mình dùng sức quá mạnh. Việc điều chỉnh giúp tâm bớt căng, trở lại với đối tượng và tiếp tục thực hành. Những diễn biến ấy không chứng minh bốn như ý túc đã được tu tập viên mãn, nhưng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ý muốn thiện, tinh tấn, tâm và sự thẩm sát.
Điều cần giữ là cả bốn đều được Đức Phật trình bày trong mối liên hệ với định và tinh cần hành. Chúng không phải bốn năng lực độc lập mà cứ thu thập đủ là kết quả tự đến. Một yếu tố được nêu làm nền nổi bật cho định, nhưng những điều kiện còn lại vẫn có thể hỗ trợ sự tu tập. Sự phân biệt bốn nền giúp người tu biết điểm nào đang cần phát triển, trong khi mục tiêu chung là an trú và tiến sâu trong pháp hành đúng.
Khi lòng muốn thiện yếu, chúng ta có thể hiểu đúng phương pháp mà chưa phát khởi đủ động lực để thực hành. Khi tinh tấn không bền, quyết tâm ban đầu dễ tan sau vài trở ngại. Khi tâm thiếu nhất hướng, nỗ lực được phân tán qua quá nhiều đối tượng. Và khi thiếu thẩm sát, người tu có thể cố gắng rất lâu bằng một cách làm chưa phù hợp. Những điểm yếu ấy cần được nhận biết theo hoàn cảnh thực tế, thay vì lấy một lời khẳng định chung rằng mình chưa đủ ý chí để giải thích tất cả.
Nhưng điều hòa không đồng nghĩa làm cho mọi phẩm chất mạnh lên hết mức. Trong lời dạy về như ý túc, Đức Phật lưu ý trạng thái quá thụ động, quá hăng say, co rút bên trong và phân tán ra ngoài. Khi quá thụ động, việc tu tập thiếu sức tiến. Khi quá hăng, tâm dễ dao động. Sự co rút vì hôn trầm và sự phóng tán theo dục lạc cũng đều làm khả năng an trú suy giảm. Người tu phải học đặt năng lực đúng mức, để sự kiên trì không trở thành cưỡng ép và sự bình tĩnh không bị nhầm với trì trệ.
Đức Phật còn nói tới sự thực hành giữ được tính nhất quán trong những điều kiện khác nhau. Sự nhớ biết và cần được khéo gìn giữ, không để thời gian trôi qua làm pháp hành liên tục đứt đoạn. Trong những lời chỉ dạy sâu hơn, Ngài cũng đề cập quán sát thân từ trên xuống dưới, sử dụng những phương diện tu tập thích hợp và phát triển tâm sáng rõ. Những nội dung ấy nhắc rằng bốn như ý túc được rèn luyện bằng pháp hành cụ thể, chứ không phải chỉ bằng một thái độ quyết tâm chung chung.
Tuy vậy, sự nhất quán không đòi người phải bắt chước nguyên vẹn điều kiện sinh hoạt của một vị chuyên tu. Chúng ta còn những trách nhiệm và giới hạn sức khỏe khác nhau. Điều có thể học là cách giữ hướng thực hành chân chánh khi hoàn cảnh thay đổi, tạo điều kiện cho định và không chủ động nuôi sự phóng dật. Khi phải chăm sóc người đang bệnh, sự chú ý cần đặt vào việc chăm sóc, khi có điều kiện hành thiền, chúng ta trở lại pháp hành đúng cách.
Sự phối hợp bốn nền cũng khác với việc tạo một cái tôi tinh thần đang điều khiển tất cả. Lòng muốn, nỗ lực, sự hướng tâm và thẩm sát đều là những pháp có điều kiện sinh khởi, có chức năng trong tiến trình tu tập. Chúng ta sử dụng những cách nói thông thường về người đang thực hành, nhưng không vì thế mà phải giả định có một chủ thể thường hằng ở ngoài các pháp. Chính vì những điều kiện có thể được nuôi dưỡng, việc tu tập mới có khả năng phát triển.
Khi một thời khóa chưa đạt điều mong đợi, chúng ta có thể xét đúng phần cần điều chỉnh. Có thể ý muốn đã chuyển sang nóng vội, nỗ lực đang quá căng, sự chú ý thiếu vững hoặc cách suy xét chưa đúng. Cũng có thể thân cần nghỉ ngơi để các điều kiện thuận lợi trở lại. Sự kiểm nghiệm không nhằm đổ lỗi cho bản thân, nó giúp những pháp cần phát triển được nhận ra đúng theo chức năng của chúng. Nhờ thế, bốn nền thành tựu trở thành những điều kiện có thể được học và rèn luyện, thay vì bốn tên gọi được lặp lại mà chưa chạm đến pháp hành.
Thành tựu trong giáo pháp không đồng nghĩa quyền năng làm mọi điều theo ý muốn#
Tên gọi như ý túc rất dễ khiến chúng ta nghĩ đến việc muốn gì được nấy. Nhưng nếu hiểu như vậy, pháp tu có thể bị biến thành lời hứa rằng sức tập trung đủ mạnh sẽ điều khiển mọi biến cố ngoài đời. Chính ý nghĩa ấy cần được xem xét thận trọng, bởi Đức Phật không trình bày thế giới như một nơi mọi điều phải thay đổi theo mong cầu riêng của con người. Các pháp sinh khởi do nhân duyên, và sự thực hành chân chánh phải làm việc với những điều kiện thực tế.
Trong kinh điển, Đức Phật có nói đến những thành tựu đặc biệt liên hệ với việc tu tập và làm cho sung mãn bốn như ý túc, kể cả các loại thần thông. Chúng ta không nên tự ý xóa những nội dung ấy khỏi lời dạy chỉ vì khó hiểu. Nhưng cũng không được chuyển chúng thành lời quảng cáo rằng ai học bốn như ý túc đều có thể tạo phép lạ, chữa mọi bệnh hoặc thay đổi sự việc theo ý muốn. Việc kể lại các thành tựu được kinh nêu không đồng nghĩa đã xác minh một tuyên bố thần thông cụ thể trong đời sống hiện nay.
Điều Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh là bốn như ý túc được phát triển và làm cho sung mãn đưa đến lợi ích lớn, trong đó có sự các . Ngài còn chỉ tám ngành là con đường đưa đến sự tu tập như ý túc. Như vậy, pháp này không tồn tại tách khỏi Chánh kiến, giới hạnh, tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Mục đích ly tham và giải thoát giữ vai trò quyết định đối với cách chúng ta hiểu giá trị của mọi năng lực được phát triển.
Một tâm có khả năng chú ý lâu vẫn có thể sử dụng khả năng ấy để nuôi điều bất thiện nếu thiếu Chánh kiến. Một ý muốn mạnh có thể đẩy con người theo đuổi lợi ích riêng bất chấp tổn hại. Việc suy xét sắc bén cũng có thể phục vụ ngã mạn. Vì thế, bốn yếu tố dục, tinh tấn, tâm và quán chỉ được hiểu đúng như những nền thành tựu của pháp hành khi gắn với định và những tinh cần hành chân chánh. Chúng không được tách khỏi hướng đoạn bất thiện và nuôi dưỡng thiện pháp.
Người tu còn có thể bị cám dỗ bởi chính mong muốn trở thành người có khả năng đặc biệt. Khi một thời khóa đem lại cảm giác lạ, chúng ta có thể muốn giữ nó để chứng minh mình đang tiến xa. Khi nghe chuyện về các bậc có thần lực, tâm có thể chuyển sang tìm một dấu hiệu khiến người khác phải kinh ngạc. Nếu sự mong cầu ấy làm tăng tham và ngã mạn, người tu cần nhận ra nó đúng theo tính chất đang có. Sự tò mò về điều phi thường không thể thay thế việc chăm sóc đang thật sự ảnh hưởng đến thân tâm.
Sự thực hành bốn như ý túc phải được kiểm chứng theo những điều có căn cứ. Lòng muốn thiện có giúp chúng ta đều đặn học và hành không? Sức tinh tấn có hỗ trợ sự an trú hay chỉ gây căng thẳng? Tâm có bớt bị kéo theo dục lạc và bất mãn không? Sự thẩm sát có khiến những nhận định sai được sửa lại và phương pháp trở nên phù hợp hơn không? Những câu hỏi này không đo được toàn bộ thành tựu thiền chứng, nhưng giúp người đang học tránh việc lấy tưởng tượng thay cho pháp hành.
Ngay cả khi có những tiến bộ rõ ràng, chúng ta vẫn phải hiểu giới hạn của kết quả. Một thời gian định tĩnh chưa đồng nghĩa đoạn tận các lậu hoặc. Một kinh nghiệm mạnh chưa chứng minh đạt năng lực siêu thường. Cũng không vì chưa có điều khác thường mà kết luận sự tu tập chân chánh là vô ích. Khả năng từ bỏ điều gây hại, phát triển thiện pháp và trưởng dưỡng trí tuệ đã là những hướng cần được thực hiện trong tiến trình hướng tới giải thoát.
vì vậy đặt sức mạnh của pháp hành trở lại đúng nơi nhân duyên. Sức ấy không được xác định bằng việc ép thế giới đáp ứng ý muốn, mà bằng khả năng tu tập những nền tảng khiến định và trí tuệ được phát triển. Khi việc học hướng đúng mục tiêu, những lời hứa thần bí không còn cần thiết để làm cho giáo pháp trở nên đáng quý. Chính sự đoạn giảm chấp thủ và sự trưởng thành của tâm trong pháp hành mới là điều người tu cần tiếp tục kiểm nghiệm.
Khi đạt đến mục đích, ý muốn tu tập cũng không cần trở thành chỗ nắm giữ#
Một ý muốn chân chánh có thể nâng đỡ chúng ta trong thời gian rất dài. Chúng ta mong hiểu pháp để giảm mê lầm, mong phát triển định để tâm có khả năng quán sát. Chúng ta cũng mong giảm sân hận để không tiếp tục gây tổn hại cho người chung quanh. Những ý hướng ấy có chức năng quan trọng trong lúc việc tu tập còn cần được thực hiện. Nhưng nếu xem chính mong muốn tiến bộ là một sở hữu phải giữ mãi, chúng ta có thể bắt đầu nắm chặt phương tiện thay vì hiểu đúng mục đích của nó.
Trong lời dạy về như ý túc, Đức Phật chỉ ra một mối liên hệ rất sâu giữa phương tiện và mục tiêu. Người tu dùng ý muốn chân chánh, tinh tấn, sự hướng tâm và thẩm sát để phát triển định. Nhưng những yếu tố ấy không đứng ngoài Duyên khởi, cũng không phải một cái tôi đang tự nâng mình đến giải thoát. Chúng sinh khởi và được sử dụng trong những điều kiện tu tập thích hợp. Khi mục đích tương ứng đã được thành tựu, sự mong cầu phải đạt mục đích ấy không còn cần tiếp tục như trước.
Điều này có thể giúp chúng ta nhận ra một sai lệch thường gặp. Sau khi có một thời khóa an trú tốt, tâm muốn ngày mai phải giống hệt. Sau khi học được một điều sâu sắc, chúng ta mong người khác nhận ra mình đã tiến bộ. Lúc ấy, pháp hành có nguy cơ trở thành nơi xây dựng một hình ảnh về bản thân. Việc giữ định và phát triển trí tuệ vẫn cần thiết, nhưng sự nắm giữ thành tựu như tôi và của tôi không phải điều Đức Phật muốn nuôi dưỡng.
Dục như ý túc dạy chúng ta khởi lên lòng muốn thiện đúng hướng. làm rõ sức bền và sự điều hòa cần thiết. Tâm như ý túc giúp sự nhất hướng được phát triển, còn quán như ý túc khiến việc thực hành có khả năng được xét lại bằng hiểu biết. Những nền tảng ấy cùng với các tinh cần hành đưa pháp tu ra khỏi tình trạng chỉ mong ước mà thiếu điều kiện thực hiện. Nhưng điều đáng quý không phải tên gọi của bốn pháp, đó là những phẩm chất thật sự được trưởng dưỡng qua thời gian.
Khi còn gặp bất thiện, người tu tiếp tục học cách đoạn giảm nó. Khi thiện pháp chưa vững, chúng ta chăm sóc điều kiện để nó sinh khởi và lớn mạnh. Nếu tâm bị phóng động, khả năng an trú cần được phát triển, nếu sự cố gắng trở nên quá căng, phải biết điều chỉnh. Sự thẩm sát giúp nhận ra những gì còn chưa rõ, nhưng không biến mọi bước tu tập thành cuộc kiểm tra căng thẳng. Nhờ thực hành đúng, lòng muốn, sức nỗ lực, tâm và sự xét biết có thể hỗ trợ một tiến trình ngày càng chín chắn.
Cùng với sự phát triển ấy, chúng ta cần nhận ra điều không nằm trong quyền quyết định tuyệt đối của ý muốn. Thân vẫn có giới hạn, hoàn cảnh vẫn thay đổi và những quả của hành động chịu nhiều nhân duyên. Không một pháp tu nào có thể được dùng để buộc mọi việc theo ý mình. Người tu chăm sóc những điều kiện còn có thể thực hiện, đồng thời học thấy rõ tính hữu vi của các trạng thái sinh khởi. Sự hiểu biết ấy giúp nỗ lực không trở thành một cuộc tranh đấu vô ích với thực tại.
Khi định được phát triển, trí tuệ còn cần tiếp tục thấy rõ các pháp trong tính chất và không đáng chấp thủ. Bốn như ý túc có vai trò quan trọng trong sự phát triển ấy, nhưng không thay thế toàn bộ Thánh đạo. Giới hạnh, Chánh kiến và các yếu tố tu tập khác phải hỗ trợ nhau. Việc một người có ý muốn thiện và sức cố gắng lớn chưa đủ bảo đảm đã đến giải thoát nếu sự chấp thủ vẫn chưa được thấy rõ và đoạn trừ.
Chúng ta có thể bắt đầu rất gần, từ một ý nguyện học pháp chân thành và một thời khóa được thực hiện đúng khả năng. Khi khó khăn xuất hiện, tinh tấn được sử dụng phù hợp. Khi tâm đã an trú, sự chú ý được gìn giữ. Điều chưa sáng tỏ được xem xét lại bằng sự thẩm sát đúng. Những điều kiện ấy cần được nuôi dưỡng nhiều lần, để việc tu tập có sức đi sâu hơn việc chỉ cảm thấy mình đang cố gắng.
Khi trí tuệ thật sự làm suy yếu tham ái và chấp thủ, giá trị của những phương tiện đã thực hành trở nên rõ ràng. Chúng ta không cần biến chúng thành một bản ngã cao quý. Lòng muốn đạt điều chân chánh đã giúp khởi hành, nhưng chính lòng muốn ấy cũng không phải đối tượng để nắm giữ mãi. Bốn như ý túc được tu tập và làm cho sung mãn vì mục đích ly tham, đoạn diệt và giải thoát. Sự thành tựu ấy được nhận ra nơi sự đoạn trừ những nguyên nhân của khổ. Nó không thuộc về một cái tôi có quyền khiến mọi sự thành như ý.