Bản đồ giáo pháp
Mười kiết sử và bốn Thánh quả
Mười kiết sử dasa saṃyojanāni: Mười dây trói buộc được đoạn dần qua các Thánh quả; chia năm hạ phần và năm thượng phần.
Chọn một yếu tố trên sơ đồ để xem giải nghĩa và đi tới chương liên quan.
Xem sơ đồ dạng văn bản
- Thân kiến: Tà kiến chấp một hoặc nhiều uẩn là tự ngã hay thuộc tự ngã; khác với cảm nhận vi tế “tôi là”. (Chương 61)
- Nghi (Chương 61)
- Giới cấm thủ: Chấp giới luật, nghi thức hoặc hình thức tự nó đủ đem giải thoát. (Chương 61)
- Dục tham: Sự tham luyến dục lạc trói buộc trong dục giới; khác về vị trí pháp số với dục tham triền cái. (Chương 61)
- Sân: Sự chống đối, ác ý trói buộc; là một trong năm hạ phần kiết sử. (Chương 61)
- Sắc ái: Tham ái đối với hiện hữu sắc giới, vẫn là kiết sử dù vượt dục tham thô. (Chương 61)
- Vô sắc ái: Tham ái đối với hiện hữu vô sắc giới; chưa phải đoạn tận tham ái. (Chương 61)
- Mạn: Ý niệm so sánh tôi hơn, bằng, kém; vẫn có thể còn ở bậc đã hết thân kiến. (Chương 61)
- Trạo cử: Sự dao động tinh tế của tâm, thuộc năm thượng phần kiết sử. (Chương 61)
- Vô minh: Sự chưa thấy đúng sự thật, là kiết sử cuối cùng được đoạn tận ở A-la-hán. (Chương 61)
- Dự lưu: Bậc nhập dòng Thánh đạo, đoạn tận thân kiến, nghi và giới cấm thủ. (Chương 75)
- Nhất lai: Bậc đã đoạn ba kiết sử đầu, làm mỏng tham, sân, si và còn trở lại tối đa một lần theo cách diễn đạt kinh điển. (Chương 75)
- Bất lai: Bậc đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không tái sinh trở lại dục giới. (Chương 75)
- A-la-hán: Bậc đã đoạn tận mười kiết sử và lậu hoặc, hoàn tất con đường giải thoát. (Chương 75)